Trong số các mô tả về Thông tin an toàn khẩn cấp, đâu là mô tả đúng?
Phần lớn là truyền đạt thông tin về thuốc kê đơn, chưa từng có Thông tin an toàn khẩn cấp liên quan đến thuốc không kê đơn hay bài thuốc Đông y được ban hành, và cũng không phải là đối tượng của loại thông tin này.
Việc truyền đạt thông tin chỉ giới hạn ở việc phân phát trực tiếp từ doanh nghiệp sản xuất bán ra đến cơ sở y tế hay hiệu thuốc v.v., không thực hiện cung cấp thông tin qua công bố báo chí, dịch vụ phát thông tin thuốc và trang thiết bị y tế (PMDA Medinavi), thư trực tiếp, fax, email v.v.
Được lập dựa trên lệnh, chỉ thị của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi, hoặc quyết định tự nguyện của doanh nghiệp sản xuất bán ra v.v., trong tình huống cần có biện pháp cảnh báo khẩn cấp, nghiêm trọng hoặc hạn chế sử dụng đối với thuốc, trang thiết bị y tế hoặc sản phẩm y học tái tạo v.v.
Là ấn phẩm khổ A4 nền màu xanh, còn được gọi là Thư xanh, được lập khi cần cảnh báo khẩn cấp và nghiêm trọng.
Đáp ánC. Được lập dựa trên lệnh, chỉ thị của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi, hoặc quyết định tự nguyện của doanh nghiệp sản xuất bán ra v.v., trong tình huống cần có biện pháp cảnh báo khẩn cấp, nghiêm trọng hoặc hạn chế sử dụng đối với thuốc, trang thiết bị y tế hoặc sản phẩm y học tái tạo v.v.
Thông tin an toàn khẩn cấp được lập dựa trên lệnh, chỉ thị của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi, hoặc quyết định tự nguyện của doanh nghiệp sản xuất bán ra v.v., khi cần có biện pháp cảnh báo khẩn cấp, nghiêm trọng. Đây là ấn phẩm khổ A4 nền màu vàng, được gọi là Thư vàng (nền màu xanh là Thông báo an toàn nhanh, Thư xanh). Cũng đã từng có loại liên quan đến thuốc không kê đơn được ban hành, như Thông tin an toàn khẩn cấp về viêm phổi kẽ do tiểu sài hồ thang (tháng 3 năm 1996). Việc truyền đạt được thực hiện qua công bố báo chí, PMDA Medinavi, phân phát trực tiếp, thư trực tiếp, fax, email v.v.
Câu 2 | Thông báo an toàn nhanh
Trong số các mô tả về Thông báo an toàn nhanh, đâu là mô tả đúng?
Là ấn phẩm khổ A4 nền màu vàng, còn được gọi là Thư vàng.
Là ấn phẩm khổ A4 nền màu xanh, còn được gọi là Thư xanh.
Được lập trong tình huống cần có biện pháp cảnh báo khẩn cấp, nghiêm trọng hoặc hạn chế sử dụng.
Được lập dựa trên lệnh, chỉ thị của Thống đốc tỉnh, thành phố.
Đáp ánB. Là ấn phẩm khổ A4 nền màu xanh, còn được gọi là Thư xanh.
Thông báo an toàn nhanh là ấn phẩm khổ A4 nền màu xanh, còn được gọi là Thư xanh. Được lập dựa trên lệnh, chỉ thị của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi, hoặc quyết định tự nguyện của doanh nghiệp sản xuất bán ra v.v., trong tình huống cần có biện pháp cảnh báo hay ứng phó sử dụng đúng đắn nhanh chóng hơn so với thông tin sửa đổi chú ý khi sử dụng thông thường. Ấn phẩm nền màu vàng là Thư vàng, tức Thông tin an toàn khẩn cấp, và trường hợp "cần có biện pháp cảnh báo khẩn cấp, nghiêm trọng hoặc hạn chế sử dụng" cũng là trường hợp lập Thông tin an toàn khẩn cấp. Thống đốc tỉnh, thành phố không phải là căn cứ để lập.
Câu 3 | Phân biệt hai loại thư
Trong số các mô tả về Thông tin an toàn khẩn cấp và Thông báo an toàn nhanh, đâu là mô tả SAI?
Thông báo an toàn nhanh được lập trong tình huống thuốc, trang thiết bị y tế hoặc sản phẩm y học tái tạo v.v. cần có biện pháp cảnh báo nhanh chóng hơn so với thông tin sửa đổi chú ý khi sử dụng thông thường.
Thông tin an toàn khẩn cấp được truyền đạt qua việc phân phát trực tiếp từ doanh nghiệp sản xuất bán ra đến cơ sở y tế hay hiệu thuốc v.v., thư trực tiếp, fax, email v.v. (trong vòng 1 tháng).
Thông báo an toàn nhanh là ấn phẩm khổ A4 nền màu vàng.
Thông tin an toàn khẩn cấp còn được gọi là Thư vàng.
Đáp ánC. Thông báo an toàn nhanh là ấn phẩm khổ A4 nền màu vàng.
Thông báo an toàn nhanh là ấn phẩm khổ A4 nền màu xanh (Thư xanh), còn ấn phẩm nền màu vàng (Thư vàng) là Thông tin an toàn khẩn cấp. Sự hoán đổi màu sắc này là lựa chọn sai điển hình. Ba lựa chọn còn lại đúng theo Guide. Cả Thông tin an toàn khẩn cấp lẫn Thông báo an toàn nhanh đều được truyền đạt trong vòng 1 tháng qua phân phát trực tiếp, thư trực tiếp, email v.v.
Câu 4 | Ví dụ thực tế
Trong số các mô tả về đối tượng và cung cấp thông tin của Thông tin an toàn khẩn cấp, đâu là mô tả đúng?
Việc lập Thông tin an toàn khẩn cấp chỉ giới hạn ở trường hợp dựa trên lệnh hoặc chỉ thị của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi, không có trường hợp được lập theo quyết định tự nguyện của doanh nghiệp sản xuất bán ra.
Thời hạn cung cấp thông tin được quy định là trong vòng 1 năm.
Thông tin an toàn khẩn cấp chỉ được lập với đối tượng là thuốc kê đơn.
Cũng đã từng có Thông tin an toàn khẩn cấp liên quan đến thuốc không kê đơn được ban hành, như Thông tin an toàn khẩn cấp về viêm phổi kẽ do tiểu sài hồ thang (tháng 3 năm 1996).
Đáp ánD. Cũng đã từng có Thông tin an toàn khẩn cấp liên quan đến thuốc không kê đơn được ban hành, như Thông tin an toàn khẩn cấp về viêm phổi kẽ do tiểu sài hồ thang (tháng 3 năm 1996).
Thông tin an toàn khẩn cấp phần lớn là truyền đạt thông tin về thuốc kê đơn hay trang thiết bị y tế dùng cho chuyên gia y tế, nhưng cũng đã từng có loại liên quan đến thuốc không kê đơn được ban hành, như Thông tin an toàn khẩn cấp về viêm phổi kẽ do tiểu sài hồ thang (tháng 3 năm 1996). Không giới hạn chỉ ở thuốc kê đơn. Việc cung cấp thông tin trong vòng 1 tháng, và được lập dựa trên lệnh, chỉ thị của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi cũng như quyết định tự nguyện của doanh nghiệp sản xuất bán ra v.v.
Câu 5 | Thông tin an toàn
Trong số các mô tả về Thông tin an toàn về thuốc và trang thiết bị y tế, đâu là mô tả đúng?
Cơ quan Dược phẩm và Thiết bị Y tế tổng hợp thông tin và cung cấp rộng rãi cho chuyên gia y dược cũng như người dân nói chung.
Không phải phát hành như một ấn phẩm truyền thông dành cho chuyên gia y dược, mà là ấn phẩm truyền thông dành cho người dân nói chung, không được cung cấp thông tin rộng rãi cho chuyên gia y dược.
Nội dung có đăng các bài giải thích liên quan đến độ an toàn của thuốc, nội dung sửa đổi chú ý khi sử dụng, các mặt hàng đối tượng chính, tài liệu tham khảo v.v.
Đối tượng chỉ bao gồm thuốc kê đơn, không bao gồm thuốc không kê đơn.
Đáp ánC. Nội dung có đăng các bài giải thích liên quan đến độ an toàn của thuốc, nội dung sửa đổi chú ý khi sử dụng, các mặt hàng đối tượng chính, tài liệu tham khảo v.v.
Thông tin an toàn về thuốc và trang thiết bị y tế có đăng các bài giải thích liên quan đến độ an toàn của thuốc, nội dung sửa đổi chú ý khi sử dụng, các mặt hàng đối tượng chính, tài liệu tham khảo (đối với nội dung sửa đổi liên quan đến tác dụng phụ quan trọng v.v., còn giới thiệu tóm tắt các trường hợp bệnh làm căn cứ) v.v. Đơn vị tổng hợp và cung cấp thông tin không phải là Cơ quan Dược phẩm và Thiết bị Y tế mà là Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi, đối tượng bao gồm cả thuốc (kể cả thuốc không kê đơn) và trang thiết bị y tế v.v., và được cung cấp thông tin rộng rãi cho chuyên gia y dược.
Câu 6 | Trang web của Cơ quan
Trong số các mô tả về thông tin được đăng trên trang web của Cơ quan Dược phẩm và Thiết bị Y tế, đâu là mô tả SAI?
Không đăng thông tin về các trường hợp bệnh nghi ngờ là tác dụng phụ do thuốc, được báo cáo từ doanh nghiệp sản xuất bán ra v.v. hoặc cơ sở y tế v.v.
Có đăng thông tin liên quan đến thu hồi sản phẩm thuốc v.v.
Có đăng thông tin phê duyệt thuốc.
Có đăng Thông tin an toàn khẩn cấp và nội dung sửa đổi chú ý khi sử dụng mà Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi đã chỉ thị cho doanh nghiệp sản xuất bán ra v.v.
Đáp ánA. Không đăng thông tin về các trường hợp bệnh nghi ngờ là tác dụng phụ do thuốc, được báo cáo từ doanh nghiệp sản xuất bán ra v.v. hoặc cơ sở y tế v.v.
Trang web của Cơ quan Dược phẩm và Thiết bị Y tế cũng có đăng thông tin về các trường hợp bệnh nghi ngờ là tác dụng phụ do thuốc, được báo cáo từ doanh nghiệp sản xuất bán ra v.v. hoặc cơ sở y tế v.v. Ngoài ra còn đăng tải thông tin tờ hướng dẫn sử dụng, Thông tin an toàn về thuốc và trang thiết bị y tế, Thông tin an toàn khẩn cấp và nội dung sửa đổi chú ý khi sử dụng, thông tin phê duyệt thuốc, thông tin liên quan đến thu hồi sản phẩm, thông tin tờ hướng dẫn sử dụng của thuốc không kê đơn và thuốc cần hướng dẫn sử dụng, tài liệu mà Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi đã công bố về độ an toàn của thuốc v.v., nên ba lựa chọn còn lại đúng.
Câu 7 | PMDA Medinavi
Trong số các mô tả về dịch vụ phát thông tin thuốc và trang thiết bị y tế (PMDA Medinavi), đâu là mô tả đúng?
Là dịch vụ phát thông tin đặc biệt quan trọng liên quan đến độ an toàn một cách kịp thời không phải qua email mà qua đường bưu điện, ngoài việc đăng trên trang chủ.
Là dịch vụ, khi có thông tin đặc biệt quan trọng liên quan đến độ an toàn của thuốc, trang thiết bị y tế v.v. được ban hành, phát thông tin đó một cách kịp thời qua email.
Là dịch vụ do Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi thực hiện, Cơ quan Dược phẩm và Thiết bị Y tế không tham gia.
Chỉ những chuyên gia y dược như dược sĩ hay Người bán thuốc đăng ký làm việc tại hiệu thuốc hay cửa hàng bán thuốc mới có thể sử dụng, người dân nói chung không thể sử dụng.
Đáp ánB. Là dịch vụ, khi có thông tin đặc biệt quan trọng liên quan đến độ an toàn của thuốc, trang thiết bị y tế v.v. được ban hành, phát thông tin đó một cách kịp thời qua email.
PMDA Medinavi là dịch vụ do Cơ quan Dược phẩm và Thiết bị Y tế thực hiện, khi có thông tin đặc biệt quan trọng liên quan đến độ an toàn của thuốc, trang thiết bị y tế v.v. được ban hành, ngoài việc đăng trên trang chủ, còn phát thông tin đó một cách kịp thời qua email. Ai cũng có thể sử dụng, không giới hạn ở chuyên gia y dược. Việc phát thông tin thực hiện qua email chứ không phải đường bưu điện, và đơn vị thực hiện là Cơ quan Dược phẩm và Thiết bị Y tế chứ không phải Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi.
Câu 8 | Nghĩa vụ nỗ lực cung cấp
Trong số các mô tả về thông tin an toàn của thuốc, đâu là mô tả SAI?
Thông tin an toàn về thuốc và trang thiết bị y tế không giới thiệu tóm tắt các trường hợp bệnh làm căn cứ cho việc sửa đổi liên quan đến tác dụng phụ quan trọng v.v.
Thông tin an toàn về thuốc và trang thiết bị y tế được đăng trên trang chủ của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi cũng như trang chủ của Cơ quan Dược phẩm và Thiết bị Y tế.
Doanh nghiệp sản xuất bán ra thuốc v.v. phải nỗ lực thu thập, xem xét các nội dung liên quan đến hiệu quả và độ an toàn của thuốc cùng các thông tin cần thiết khác cho việc sử dụng đúng đắn thuốc, và cung cấp những thông tin đó cho người mở hiệu thuốc, người kinh doanh bán thuốc, người kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà cũng như dược sĩ, Người bán thuốc đăng ký làm việc tại đó.
Thông tin an toàn về thuốc và trang thiết bị y tế được gửi đến từng tỉnh, thành phố, thành phố có trạm y tế và khu đặc biệt, các hội học thuật liên quan, cơ sở y tế v.v.
Đáp ánA. Thông tin an toàn về thuốc và trang thiết bị y tế không giới thiệu tóm tắt các trường hợp bệnh làm căn cứ cho việc sửa đổi liên quan đến tác dụng phụ quan trọng v.v.
Thông tin an toàn về thuốc và trang thiết bị y tế có đăng tài liệu tham khảo v.v., và đối với nội dung sửa đổi liên quan đến tác dụng phụ quan trọng v.v., còn giới thiệu tóm tắt các trường hợp bệnh làm căn cứ. Nghĩa vụ nỗ lực thu thập, cung cấp thông tin của doanh nghiệp sản xuất bán ra v.v. (Điều 68-2-6 khoản 1 của Luật), việc đăng trên trang chủ của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi cũng như trang chủ của Cơ quan Dược phẩm và Thiết bị Y tế, và việc gửi đến từng tỉnh, thành phố, thành phố có trạm y tế và khu đặc biệt, các hội học thuật liên quan, cơ sở y tế v.v. đều đúng theo Guide.
Câu 9 | Chế độ báo cáo
Trong số các mô tả về Chế độ báo cáo thông tin an toàn về thuốc và trang thiết bị y tế, đâu là mô tả đúng?
Thời hạn báo cáo được quy định là trong vòng 15 ngày kể từ ngày biết được sự phát sinh thiệt hại sức khỏe bị nghi ngờ là do tác dụng phụ v.v. của thuốc.
Chuyên gia y dược, khi biết được sự phát sinh thiệt hại sức khỏe bị nghi ngờ là do tác dụng phụ v.v. của thuốc, nếu công nhận là cần thiết để phòng ngừa phát sinh hoặc mở rộng nguy hại về vệ sinh sức khỏe, thì phải báo cáo điều đó với Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi.
Trên thực tế, báo cáo được quy định là nộp cho Thống đốc tỉnh, thành phố nơi có trụ sở, chứ không phải Cơ quan Dược phẩm và Thiết bị Y tế.
Người bán thuốc đăng ký, ngay cả sau khi chế độ Người bán thuốc đăng ký được đưa vào theo sửa đổi Luật Dược sự tháng 6 năm 2006, vẫn không thuộc diện chuyên gia y dược thực hiện báo cáo theo chế độ này, và chỉ dược sĩ, bác sĩ, nha sĩ mới có thể thực hiện báo cáo.
Đáp ánB. Chuyên gia y dược, khi biết được sự phát sinh thiệt hại sức khỏe bị nghi ngờ là do tác dụng phụ v.v. của thuốc, nếu công nhận là cần thiết để phòng ngừa phát sinh hoặc mở rộng nguy hại về vệ sinh sức khỏe, thì phải báo cáo điều đó với Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi.
Theo quy định tại Điều 68-10 khoản 2 của Luật, chuyên gia y dược, khi biết được sự phát sinh thiệt hại sức khỏe bị nghi ngờ là do tác dụng phụ v.v., nếu công nhận là cần thiết để phòng ngừa phát sinh hoặc mở rộng nguy hại về vệ sinh sức khỏe, phải báo cáo với Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi. Cùng với việc đưa vào chế độ Người bán thuốc đăng ký theo sửa đổi Luật Dược sự tháng 6 năm 2006, Người bán thuốc đăng ký cũng được xác định là chuyên gia y dược thực hiện báo cáo. Thời hạn báo cáo không được quy định cụ thể, và trên thực tế báo cáo được nộp cho Cơ quan Dược phẩm và Thiết bị Y tế.
Câu 10 | Cách thức báo cáo
Trong số các mô tả về báo cáo dựa trên Chế độ báo cáo thông tin an toàn về thuốc và trang thiết bị y tế, đâu là mô tả SAI?
Không cần điền đầy đủ mọi mục trong mẫu báo cáo, chỉ cần báo cáo trong phạm vi có thể nắm bắt được từ người mua v.v. là đủ.
Ngay cả khi mối quan hệ nhân quả với thuốc không nhất thiết rõ ràng, vẫn có thể là đối tượng báo cáo.
Ngay cả khi có nhiều chuyên gia cùng tham gia vào việc bán thuốc v.v., chỉ cần 1 chuyên gia trực tiếp tiếp xúc với thông tin thiệt hại sức khỏe nộp báo cáo là đủ.
Thời hạn báo cáo được quy định là trong vòng 30 ngày kể từ ngày biết được sự phát sinh thiệt hại sức khỏe.
Đáp ánD. Thời hạn báo cáo được quy định là trong vòng 30 ngày kể từ ngày biết được sự phát sinh thiệt hại sức khỏe.
Thời hạn báo cáo của chế độ này không được quy định cụ thể. Từ góc độ phòng ngừa phát sinh hoặc mở rộng nguy hại về vệ sinh sức khỏe, khi công nhận là cần thiết phải báo cáo, thì cần gửi báo cáo đến Cơ quan Dược phẩm và Thiết bị Y tế một cách nhanh chóng, kịp thời qua đường bưu điện, fax hoặc email. Thời hạn trong vòng 30 ngày v.v. là quy định áp dụng cho báo cáo tác dụng phụ v.v. từ doanh nghiệp (doanh nghiệp sản xuất bán ra v.v.). Ba lựa chọn còn lại đúng theo Guide.
Câu 11 | Lịch sử chế độ
Trong số các mô tả về lịch sử hình thành Chế độ báo cáo thông tin an toàn về thuốc và trang thiết bị y tế, đâu là mô tả đúng?
Việc bắt buộc chuyên gia y dược như bác sĩ hay dược sĩ v.v. báo cáo tác dụng phụ v.v. bắt đầu từ sửa đổi Luật Dược sự tháng 6 năm 2006.
Từ tháng 8 năm 1978, báo cáo định kỳ về các trường hợp tác dụng phụ v.v. của thuốc không kê đơn nắm bắt được tại khoảng 3000 bệnh viện giám sát đã được thực hiện.
Chế độ này bắt đầu từ tháng 3 năm 1967, với việc chỉ định khoảng 3000 cơ sở y tế làm cơ sở giám sát, dưới hình thức Bộ Y tế khi đó trực tiếp nhận báo cáo tác dụng phụ, gọi là Chế độ theo dõi tác dụng phụ thuốc.
Người bán thuốc đăng ký không được xác định là chuyên gia y dược thực hiện báo cáo theo chế độ này.
Đáp ánC. Chế độ này bắt đầu từ tháng 3 năm 1967, với việc chỉ định khoảng 3000 cơ sở y tế làm cơ sở giám sát, dưới hình thức Bộ Y tế khi đó trực tiếp nhận báo cáo tác dụng phụ, gọi là Chế độ theo dõi tác dụng phụ thuốc.
Chế độ này bắt đầu từ tháng 3 năm 1967, với việc chỉ định khoảng 3000 cơ sở y tế làm cơ sở giám sát, gọi là Chế độ theo dõi tác dụng phụ thuốc. Việc bắt buộc chuyên gia y dược báo cáo bắt đầu từ sửa đổi Luật Dược sự tháng 7 năm 2002, còn sửa đổi Luật Dược sự tháng 6 năm 2006 là việc đưa vào chế độ Người bán thuốc đăng ký, và cùng với đó Người bán thuốc đăng ký cũng được xác định là chuyên gia y dược thực hiện báo cáo. Nơi thực hiện báo cáo định kỳ từ tháng 8 năm 1978 không phải là bệnh viện giám sát mà là khoảng 3000 hiệu thuốc giám sát.
Câu 12 | Phương thức báo cáo
Trong số các mô tả về cách thức báo cáo khi nghi ngờ có tác dụng phụ v.v. của thuốc, đâu là mô tả đúng?
Báo cáo chỉ có thể thực hiện khi thông tin được nắm bắt từ chính bản thân người bị thiệt hại sức khỏe.
Thiệt hại sức khỏe được cho là do sử dụng quá liều hoặc sử dụng sai v.v. của thuốc thì trong mọi trường hợp đều không phải là đối tượng báo cáo.
Từ tháng 4 năm Reiwa 3, việc báo cáo điện tử bằng cách nhập trực tiếp trên trang web đã được thực hiện.
Người nộp báo cáo hoàn toàn không được cấp phát bất cứ thứ gì.
Đáp ánC. Từ tháng 4 năm Reiwa 3, việc báo cáo điện tử bằng cách nhập trực tiếp trên trang web đã được thực hiện.
Từ tháng 4 năm Reiwa 3, việc báo cáo điện tử bằng cách nhập trực tiếp trên trang web đã được thực hiện. Báo cáo chỉ cần thực hiện trong phạm vi có thể nắm bắt được từ người mua v.v. (không giới hạn ở chính bản thân người bị thiệt hại sức khỏe). Khi công nhận là cần thiết trên phương diện đối sách an toàn, thiệt hại sức khỏe được cho là do sử dụng quá liều hoặc sử dụng sai v.v. cũng cần được báo cáo. Người nộp báo cáo được cấp giấy xác nhận đã nhận thông tin an toàn.
Câu 13 | Thời hạn báo cáo 15 ngày
Trong Chế độ báo cáo tác dụng phụ v.v. từ doanh nghiệp, đâu là thời hạn báo cáo đối với trường hợp tử vong (trường hợp trong nước) không thể dự đoán được từ chú ý khi sử dụng, trong số các trường hợp tác dụng phụ bị nghi ngờ là do thuốc?
Trong vòng 7 ngày
Trong vòng 30 ngày
Báo cáo định kỳ
Trong vòng 15 ngày
Đáp ánD. Trong vòng 15 ngày
Trong số các trường hợp tác dụng phụ không thể dự đoán được từ chú ý khi sử dụng, trường hợp tử vong và trường hợp nghiêm trọng (trừ tử vong) đều được quy định là báo cáo trong vòng 15 ngày, đối với cả trường hợp trong nước lẫn nước ngoài. Báo cáo định kỳ là quy định áp dụng cho trường hợp không nghiêm trọng trong nước không thể dự đoán được từ chú ý khi sử dụng. Trong vòng 30 ngày áp dụng cho trường hợp nghiêm trọng (trừ tử vong) có thể dự đoán được từ chú ý khi sử dụng, ngoại trừ trường hợp là thuốc có thành phần có hiệu quả mới trong vòng 2 năm sau khi được phê duyệt hoặc thu được từ khảo sát ngay sau khi bán ra v.v., và không có phân loại "trong vòng 7 ngày".
Câu 14 | Thời hạn báo cáo 30 ngày
Trong Chế độ báo cáo tác dụng phụ v.v. từ doanh nghiệp, đâu là thời hạn báo cáo đối với trường hợp tác dụng phụ nghiêm trọng (trừ tử vong) có thể dự đoán được từ chú ý khi sử dụng, không thuộc trường hợp là thuốc có thành phần có hiệu quả mới trong vòng 2 năm sau khi được phê duyệt hoặc thu được từ khảo sát ngay sau khi bán ra v.v.?
Trong vòng 30 ngày
Không có nghĩa vụ báo cáo
Báo cáo định kỳ
Trong vòng 15 ngày
Đáp ánA. Trong vòng 30 ngày
Trong số các trường hợp nghiêm trọng (trừ tử vong) có thể dự đoán được từ chú ý khi sử dụng, trường hợp là thuốc có thành phần có hiệu quả mới trong vòng 2 năm sau khi được phê duyệt hoặc thu được từ khảo sát ngay sau khi bán ra v.v. thì báo cáo trong vòng 15 ngày, còn trường hợp khác (ngoài các trường hợp trên) thì báo cáo trong vòng 30 ngày. Trường hợp tử vong thì dù có thể dự đoán được cũng báo cáo trong vòng 15 ngày. Báo cáo định kỳ là phân loại áp dụng cho trường hợp không nghiêm trọng trong nước không thể dự đoán được từ chú ý khi sử dụng, và không phải là không có nghĩa vụ báo cáo.
Câu 15 | Phân loại thời hạn báo cáo
Trong số các mô tả về thời hạn báo cáo của Chế độ báo cáo tác dụng phụ v.v. từ doanh nghiệp, đâu là mô tả SAI?
Trường hợp không nghiêm trọng trong nước, trong số các trường hợp tác dụng phụ bị nghi ngờ là do thuốc, không thể dự đoán được từ chú ý khi sử dụng, thì được quy định là báo cáo định kỳ.
Trường hợp tác dụng phụ nghiêm trọng (bao gồm tử vong) mà xu hướng phát sinh không thể dự đoán được từ chú ý khi sử dụng v.v., được quy định là báo cáo trong vòng 30 ngày.
Báo cáo nghiên cứu cho thấy có khả năng phát sinh ung thư hoặc bệnh tật, khuyết tật hay tử vong nghiêm trọng khác do tác dụng phụ - bệnh truyền nhiễm, được quy định là báo cáo trong vòng 30 ngày.
Việc thực hiện các biện pháp ở nước ngoài như ngừng sản xuất, nhập khẩu hoặc bán, thu hồi, tiêu hủy hay biện pháp khác nhằm phòng ngừa phát sinh hoặc mở rộng nguy hại về vệ sinh sức khỏe (báo cáo biện pháp ở nước ngoài) được quy định là báo cáo trong vòng 15 ngày.
Đáp ánB. Trường hợp tác dụng phụ nghiêm trọng (bao gồm tử vong) mà xu hướng phát sinh không thể dự đoán được từ chú ý khi sử dụng v.v., được quy định là báo cáo trong vòng 30 ngày.
Thời hạn báo cáo đối với trường hợp tác dụng phụ nghiêm trọng (bao gồm tử vong) mà xu hướng phát sinh không thể dự đoán được từ chú ý khi sử dụng v.v. không phải trong vòng 30 ngày mà là trong vòng 15 ngày. Trường hợp nghiêm trọng (bao gồm tử vong) mà sự thay đổi xu hướng phát sinh cho thấy có nguy cơ phát sinh hoặc mở rộng nguy hại về vệ sinh sức khỏe cũng được quy định là trong vòng 15 ngày. Trường hợp không nghiêm trọng trong nước không thể dự đoán được là báo cáo định kỳ, báo cáo biện pháp ở nước ngoài là trong vòng 15 ngày, báo cáo nghiên cứu là trong vòng 30 ngày, ba lựa chọn còn lại đúng theo Phụ lục 5-4.
Câu 16 | Chế độ báo cáo của doanh nghiệp
Trong số các mô tả về Chế độ báo cáo tác dụng phụ v.v. từ doanh nghiệp, đâu là mô tả đúng?
Báo cáo tác dụng phụ v.v. từ doanh nghiệp sản xuất bán ra v.v. không phải là nghĩa vụ pháp lý mà là nghĩa vụ nỗ lực.
Doanh nghiệp sản xuất bán ra v.v., theo quy định tại Điều 68-10 khoản 1 của Luật, khi biết được sự phát sinh thiệt hại sức khỏe bị nghi ngờ là do tác dụng phụ v.v. của thuốc mà mình sản xuất bán ra hoặc được phê duyệt, có nghĩa vụ báo cáo điều đó với Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi trong thời hạn quy định.
Chế độ này lần đầu tiên được thể chế hóa nhờ sửa đổi Luật Dược sự năm 2002.
Không có quy định nào yêu cầu người mở hiệu thuốc, người kinh doanh bán thuốc, người kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà hoặc chuyên gia y dược (bao gồm Người bán thuốc đăng ký) phải nỗ lực hợp tác với việc thu thập thông tin cần thiết cho việc sử dụng đúng đắn thuốc mà doanh nghiệp sản xuất bán ra v.v. thực hiện, và những người này không cần hợp tác thu thập thông tin.
Đáp ánB. Doanh nghiệp sản xuất bán ra v.v., theo quy định tại Điều 68-10 khoản 1 của Luật, khi biết được sự phát sinh thiệt hại sức khỏe bị nghi ngờ là do tác dụng phụ v.v. của thuốc mà mình sản xuất bán ra hoặc được phê duyệt, có nghĩa vụ báo cáo điều đó với Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi trong thời hạn quy định.
Doanh nghiệp sản xuất bán ra v.v., theo Điều 68-10 khoản 1 của Luật, có nghĩa vụ báo cáo trong thời hạn quy định (trên thực tế nộp báo cáo cho Cơ quan Dược phẩm và Thiết bị Y tế). Đây không phải nghĩa vụ nỗ lực. Người mở hiệu thuốc, người kinh doanh bán thuốc hoặc chuyên gia y dược (bao gồm Người bán thuốc đăng ký), theo Điều 68-2-6 khoản 2 của Luật, phải nỗ lực hợp tác với việc thu thập thông tin mà doanh nghiệp sản xuất bán ra v.v. thực hiện. Chế độ này được thể chế hóa nhờ sửa đổi Luật Dược sự năm 1979, và nghĩa vụ thu thập thông tin được ghi rõ nhờ sửa đổi Luật Dược sự năm 1996.
Câu 17 | Chế độ tái thẩm định
Trong số các mô tả về việc điều tra sau khi phê duyệt thuốc không kê đơn, đâu là mô tả đúng?
Đối với thuốc có phối hợp thành phần có hiệu quả khác biệt rõ rệt so với thuốc hiện có, áp dụng chế độ trong đó doanh nghiệp sản xuất bán ra v.v. tích lũy thành tích sử dụng sau khi phê duyệt trong một khoảng thời gian nhất định (áng chừng 8 năm) do Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi quy định khi phê duyệt (không vượt quá 10 năm), và nộp cho Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi (Chế độ tái thẩm định).
Đối với thuốc có phối hợp thành phần có hiệu quả khác biệt rõ rệt so với thuốc hiện có, áp dụng Chế độ tái thẩm định với thời gian điều tra do Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi quy định khi phê duyệt, áng chừng 3 năm.
Đối với thuốc không kê đơn, khác với thuốc kê đơn, việc điều tra sau khi phê duyệt không được yêu cầu đối với doanh nghiệp sản xuất bán ra v.v.
Đối với thuốc lần đầu tiên phối hợp thành phần có hiệu quả từng được sử dụng trong thuốc kê đơn vào thuốc không kê đơn (thuốc OTC), yêu cầu điều tra về độ an toàn trong khoảng thời gian do Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi quy định khi phê duyệt (không vượt quá 10 năm), áng chừng 3 năm, như một điều kiện phê duyệt, và được chỉ định là thuốc không kê đơn Nhóm 1.
Đáp ánA. Đối với thuốc có phối hợp thành phần có hiệu quả khác biệt rõ rệt so với thuốc hiện có, áp dụng chế độ trong đó doanh nghiệp sản xuất bán ra v.v. tích lũy thành tích sử dụng sau khi phê duyệt trong một khoảng thời gian nhất định (áng chừng 8 năm) do Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi quy định khi phê duyệt (không vượt quá 10 năm), và nộp cho Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi (Chế độ tái thẩm định).
Đối với thuốc có phối hợp thành phần có hiệu quả khác biệt rõ rệt so với thuốc hiện có, áp dụng Chế độ tái thẩm định trong một khoảng thời gian nhất định (áng chừng 8 năm) do Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi quy định khi phê duyệt (không vượt quá 10 năm). Áng chừng 3 năm là thời gian điều tra về độ an toàn được yêu cầu như một điều kiện phê duyệt đối với thuốc lần đầu tiên phối hợp thành phần có hiệu quả từng được sử dụng trong thuốc kê đơn vào thuốc không kê đơn (được chỉ định là thuốc cần hướng dẫn sử dụng, không phải thuốc không kê đơn Nhóm 1). Việc điều tra sau khi phê duyệt cũng được yêu cầu đối với thuốc không kê đơn.
Câu 18 | Đánh giá và biện pháp
Trong số các mô tả về đánh giá và biện pháp đối với thông tin tác dụng phụ v.v., đâu là mô tả đúng?
Không có trường hợp thay đổi một phần công dụng, hiệu quả hay cách dùng, liều dùng như một biện pháp hành chính cần thiết cho đối sách an toàn.
Việc thu hồi sản phẩm không nằm trong các biện pháp hành chính cần thiết cho đối sách an toàn.
Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi lắng nghe ý kiến của Thống đốc tỉnh, thành phố để thực hiện các biện pháp hành chính cần thiết cho đối sách an toàn.
Thông tin tác dụng phụ được thu thập qua các chế độ khác nhau sẽ được Cơ quan Dược phẩm và Thiết bị Y tế điều tra, xem xét trong khi lắng nghe ý kiến của các ủy viên chuyên môn.
Đáp ánD. Thông tin tác dụng phụ được thu thập qua các chế độ khác nhau sẽ được Cơ quan Dược phẩm và Thiết bị Y tế điều tra, xem xét trong khi lắng nghe ý kiến của các ủy viên chuyên môn.
Thông tin tác dụng phụ được thu thập qua các chế độ khác nhau sẽ được Cơ quan Dược phẩm và Thiết bị Y tế điều tra, xem xét trong khi lắng nghe ý kiến của các ủy viên chuyên môn, và dựa trên kết quả đó, Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi lắng nghe ý kiến của Hội đồng Dược sự (không phải Thống đốc tỉnh, thành phố) để thực hiện các biện pháp hành chính cần thiết cho đối sách an toàn, như cung cấp thông tin nhằm cảnh báo thông qua chỉ thị sửa đổi chú ý khi sử dụng v.v., thay đổi một phần công dụng, hiệu quả hay cách dùng, liều dùng, chỉ thị thực hiện điều tra - thử nghiệm, ngừng sản xuất - bán, thu hồi sản phẩm v.v.
Câu 19 | Cơ chế chế độ cứu trợ
Trong số các mô tả về chế độ cứu trợ thiệt hại do tác dụng phụ của thuốc, đâu là mô tả đúng?
Chế độ này, với tư cách là chế độ công do trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp dược phẩm, đã bắt đầu vận hành từ tháng 5 năm 1990.
Sau khi nhận yêu cầu trợ cấp từ chính người bị thiệt hại sức khỏe (hoặc gia đình), trải qua tư vấn - đáp lời tư vấn của Hội đồng Dược sự về các vấn đề cần phán đoán y dược học, các khoản trợ cấp khác nhau được thực hiện dựa trên kết quả phán định của Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi.
Thuốc cần hướng dẫn sử dụng và thuốc không kê đơn không thuộc diện thuốc là đối tượng của chế độ này.
Trợ cấp cứu trợ được thực hiện dựa trên kết quả phán định của Chủ tịch Hội đồng quản trị Cơ quan Dược phẩm và Thiết bị Y tế, sau khi nhận yêu cầu trợ cấp từ chính người bị thiệt hại sức khỏe (hoặc gia đình), trải qua tư vấn - đáp lời tư vấn của Hội đồng Dược sự về các vấn đề cần phán đoán y dược học.
Đáp ánB. Sau khi nhận yêu cầu trợ cấp từ chính người bị thiệt hại sức khỏe (hoặc gia đình), trải qua tư vấn - đáp lời tư vấn của Hội đồng Dược sự về các vấn đề cần phán đoán y dược học, các khoản trợ cấp khác nhau được thực hiện dựa trên kết quả phán định của Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi.
Trợ cấp cứu trợ, sau khi nhận yêu cầu trợ cấp từ chính người bị thiệt hại sức khỏe (hoặc gia đình), trải qua tư vấn - đáp lời tư vấn của Hội đồng Dược sự về các vấn đề cần phán đoán y dược học như thiệt hại sức khỏe đó có phải do tác dụng phụ của thuốc hay không v.v., được thực hiện dựa trên kết quả phán định của Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi (không phải Chủ tịch Hội đồng quản trị Cơ quan Dược phẩm và Thiết bị Y tế). Chế độ này, với tư cách là chế độ công do trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp dược phẩm, đã bắt đầu vận hành từ tháng 5 năm 1980. Thuốc cần hướng dẫn sử dụng và thuốc không kê đơn cũng thuộc diện thuốc là đối tượng của chế độ này.
Câu 20 | Gánh chịu chi phí
Trong số các mô tả về việc gánh chịu chi phí của chế độ cứu trợ thiệt hại do tác dụng phụ của thuốc, đâu là mô tả đúng?
Chi phí trợ cấp được chi trả toàn bộ bằng ngân sách quốc gia.
Đối với chi phí trợ cấp, khoản đóng góp được doanh nghiệp sản xuất bán ra nộp theo từng năm tài khóa được sử dụng để chi trả.
Chi phí hành chính được chi trả toàn bộ bằng khoản đóng góp của doanh nghiệp sản xuất bán ra.
Một nửa số tiền tương đương chi phí hành chính được chi trả bằng gánh chịu của tỉnh, thành phố.
Đáp ánB. Đối với chi phí trợ cấp, khoản đóng góp được doanh nghiệp sản xuất bán ra nộp theo từng năm tài khóa được sử dụng để chi trả.
Trong số chi phí cần thiết cho nghiệp vụ trợ cấp cứu trợ, đối với chi phí trợ cấp, dựa trên quy định tại Điều 19 của Luật Tổ chức hành chính độc lập Cơ quan Dược phẩm và Thiết bị Y tế, khoản đóng góp được doanh nghiệp sản xuất bán ra nộp theo từng năm tài khóa được sử dụng để chi trả. Đối với chi phí hành chính, một nửa số tiền tương đương được chi trả bằng trợ cấp từ ngân sách quốc gia (không phải gánh chịu của tỉnh, thành phố). Các mô tả cho rằng chi phí trợ cấp được chi trả toàn bộ bằng ngân sách quốc gia, hoặc chi phí hành chính được chi trả toàn bộ bằng gánh chịu của doanh nghiệp sản xuất bán ra, đều là sai.
Câu 21 | Các loại trợ cấp
Trong số các phương án sau, đâu là loại KHÔNG thuộc các loại trợ cấp của chế độ cứu trợ thiệt hại do tác dụng phụ của thuốc?
Trợ cấp nuôi dưỡng trẻ tàn tật
Trợ cấp tuất một lần
Trợ cấp nghỉ việc
Phụ cấp y tế
Đáp ánC. Trợ cấp nghỉ việc
Các loại trợ cấp gồm 7 loại: chi phí y tế, phụ cấp y tế, trợ cấp tàn tật, trợ cấp nuôi dưỡng trẻ tàn tật, trợ cấp tuất, trợ cấp tuất một lần và chi phí tang lễ, không có loại trợ cấp nghỉ việc. Phụ cấp y tế là khoản trợ cấp định mức chú trọng vào gánh nặng chi phí ngoài chi phí y tế liên quan đến điều trị, trợ cấp nuôi dưỡng trẻ tàn tật là khoản trợ cấp cho người nuôi dưỡng người dưới 18 tuổi ở trong tình trạng tàn tật ở một mức độ nhất định, trợ cấp tuất một lần là khoản trợ cấp mang tính chia buồn v.v. cho gia đình khi người không phải là trụ cột kinh tế qua đời.
Câu 22 | Thời hạn yêu cầu
Trong số các mô tả về các loại trợ cấp của chế độ cứu trợ thiệt hại do tác dụng phụ của thuốc và thời hạn yêu cầu, đâu là mô tả đúng?
Trợ cấp tàn tật có thời hạn yêu cầu, còn trợ cấp nuôi dưỡng trẻ tàn tật hay chi phí y tế thì không có thời hạn yêu cầu.
Thời hạn yêu cầu chi phí y tế là trong vòng 5 năm kể từ khi việc thanh toán chi phí là đối tượng chi trả chi phí y tế được thực hiện.
Trợ cấp tuất, khác với trợ cấp tuất một lần hay chi phí tang lễ, không có quy định thời hạn yêu cầu.
Khác với chi phí y tế, chi phí tang lễ không có quy định thời hạn yêu cầu.
Đáp ánB. Thời hạn yêu cầu chi phí y tế là trong vòng 5 năm kể từ khi việc thanh toán chi phí là đối tượng chi trả chi phí y tế được thực hiện.
Thời hạn yêu cầu chi phí y tế là trong vòng 5 năm kể từ khi việc thanh toán chi phí là đối tượng chi trả được thực hiện. Loại không có thời hạn yêu cầu là trợ cấp tàn tật và trợ cấp nuôi dưỡng trẻ tàn tật, còn chi phí y tế thì có thời hạn (phương án 1 bị đảo ngược). Trợ cấp tuất có thời hạn trong vòng 5 năm kể từ khi qua đời (trong vòng 2 năm nếu trước khi qua đời đã có quyết định chi trả chi phí y tế v.v., hoặc nếu người có thứ tự ưu tiên trước đã qua đời), và trợ cấp tuất một lần cũng như chi phí tang lễ có thời hạn yêu cầu giống như trợ cấp tuất, tất cả đều có quy định thời hạn.
Câu 23 | Trợ cấp tàn tật
Trong số các mô tả về trợ cấp tàn tật của chế độ cứu trợ thiệt hại do tác dụng phụ của thuốc, đâu là mô tả đúng?
Là khoản được cấp phát (định mức) nhằm mục đích bù đắp sinh hoạt v.v. cho người dưới 18 tuổi ở trong tình trạng tàn tật ở một mức độ nhất định do tác dụng phụ của thuốc, và được cho là không có quy định thời hạn yêu cầu.
Trợ cấp là khoản cấp phát định mức, giới hạn tối đa 10 năm.
Thời hạn yêu cầu được quy định là trong vòng 5 năm kể từ khi ở trong tình trạng tàn tật.
Là khoản được cấp phát (định mức) nhằm mục đích bù đắp sinh hoạt v.v. cho người từ 18 tuổi trở lên ở trong tình trạng tàn tật ở một mức độ nhất định do tác dụng phụ của thuốc, và không có quy định thời hạn yêu cầu.
Đáp ánD. Là khoản được cấp phát (định mức) nhằm mục đích bù đắp sinh hoạt v.v. cho người từ 18 tuổi trở lên ở trong tình trạng tàn tật ở một mức độ nhất định do tác dụng phụ của thuốc, và không có quy định thời hạn yêu cầu.
Trợ cấp tàn tật là khoản cấp phát định mức nhằm mục đích bù đắp sinh hoạt v.v. cho người từ 18 tuổi trở lên ở trong tình trạng tàn tật ở một mức độ nhất định do tác dụng phụ của thuốc, và không có thời hạn yêu cầu. Khoản trợ cấp liên quan đến người dưới 18 tuổi là trợ cấp nuôi dưỡng trẻ tàn tật, được cấp cho người nuôi dưỡng người đó (khoản này cũng không có thời hạn yêu cầu). Giới hạn tối đa 10 năm là của trợ cấp tuất, không có quy định giới hạn như vậy đối với trợ cấp tàn tật.
Câu 24 | Chi phí y tế và phụ cấp y tế
Trong số các mô tả về chi phí y tế và phụ cấp y tế của chế độ cứu trợ thiệt hại do tác dụng phụ của thuốc, đâu là mô tả đúng?
Đối tượng được cấp phát chi phí y tế và phụ cấp y tế là trường hợp bệnh do tác dụng phụ chỉ cần điều trị ngoại trú là đủ.
Thời hạn yêu cầu phụ cấp y tế là trong vòng 5 năm kể từ ngày đầu tiên của tháng sau tháng có việc điều trị liên quan đến yêu cầu.
Phụ cấp y tế là khoản bồi thường thực chi phí đã bỏ ra để điều trị bệnh do tác dụng phụ của thuốc.
Chi phí y tế là khoản trợ cấp định mức.
Đáp ánB. Thời hạn yêu cầu phụ cấp y tế là trong vòng 5 năm kể từ ngày đầu tiên của tháng sau tháng có việc điều trị liên quan đến yêu cầu.
Thời hạn yêu cầu phụ cấp y tế là trong vòng 5 năm kể từ ngày đầu tiên của tháng sau tháng có việc điều trị liên quan đến yêu cầu. Chi phí y tế không phải khoản định mức mà là khoản bồi thường thực chi phí đã bỏ ra để điều trị (phần tự chi trả sau khi trừ đi khoản được chi trả theo bảo hiểm y tế v.v.), còn phụ cấp y tế mới là khoản trợ cấp định mức chú trọng vào gánh nặng chi phí ngoài chi phí y tế (phương án 1, 2 bị đảo ngược). Đối tượng được cấp phát chi phí y tế, phụ cấp y tế là trường hợp bệnh do tác dụng phụ ở "mức độ cần điều trị nội trú".
Câu 25 | Thuốc ngoài đối tượng
Trong số thuốc cần hướng dẫn sử dụng hoặc thuốc không kê đơn sau đây, đâu là loại KHÔNG thuộc đối tượng của chế độ cứu trợ thiệt hại do tác dụng phụ của thuốc?
Thuốc cảm
Thuốc thử xét nghiệm không kê đơn
Thuốc giảm đau hạ sốt
Thuốc sát khuẩn tiêu độc sử dụng trực tiếp trên cơ thể người
Đáp ánB. Thuốc thử xét nghiệm không kê đơn
Thuốc không thuộc đối tượng của chế độ cứu trợ, trong số thuốc cần hướng dẫn sử dụng hoặc thuốc không kê đơn, được quy định là thuốc diệt côn trùng - diệt chuột (trừ loại sử dụng trực tiếp trên cơ thể người), thuốc sát khuẩn tiêu độc (trừ loại sử dụng trực tiếp trên cơ thể người), thuốc thử xét nghiệm không kê đơn, và một số thuốc thuộc Dược điển Nhật Bản (nước tinh khiết, vaselin v.v.). Vì thuốc sát khuẩn tiêu độc được quy định là "trừ loại sử dụng trực tiếp trên cơ thể người", nên thuốc sát khuẩn tiêu độc sử dụng trực tiếp trên cơ thể người vẫn thuộc đối tượng. Thuốc cảm hay thuốc giảm đau hạ sốt không được quy định là ngoài đối tượng.
Câu 26 | Phạm vi ngoài đối tượng
Trong số các mô tả về đối tượng của chế độ cứu trợ thiệt hại do tác dụng phụ của thuốc, đâu là mô tả SAI?
Một số thuốc thuộc Dược điển Nhật Bản (nước tinh khiết, vaselin v.v.) không thuộc đối tượng của chế độ cứu trợ.
Thuốc diệt côn trùng - diệt chuột (trừ loại sử dụng trực tiếp trên cơ thể người) không thuộc đối tượng của chế độ cứu trợ.
Thiệt hại sức khỏe do sử dụng thuốc chưa được phê duyệt hoặc chưa được cấp phép (bao gồm cả thuốc có được qua nhập khẩu cá nhân) không thuộc đối tượng của chế độ cứu trợ.
Thuốc sát khuẩn tiêu độc sử dụng trực tiếp trên cơ thể người không thuộc đối tượng của chế độ cứu trợ.
Đáp ánD. Thuốc sát khuẩn tiêu độc sử dụng trực tiếp trên cơ thể người không thuộc đối tượng của chế độ cứu trợ.
Thuốc sát khuẩn tiêu độc không thuộc đối tượng của chế độ cứu trợ chỉ trong trường hợp "trừ loại sử dụng trực tiếp trên cơ thể người", nên thuốc sát khuẩn tiêu độc sử dụng trực tiếp trên cơ thể người vẫn thuộc đối tượng của chế độ cứu trợ. Thuốc diệt côn trùng - diệt chuột (trừ loại sử dụng trực tiếp trên cơ thể người), thuốc thử xét nghiệm không kê đơn, một số thuốc thuộc Dược điển Nhật Bản (nước tinh khiết, vaselin v.v.) là ngoài đối tượng, và thiệt hại sức khỏe do sử dụng thuốc chưa được phê duyệt hoặc chưa được cấp phép (bao gồm cả những sản phẩm được bán như gọi là thực phẩm chức năng, cũng như thuốc có được qua nhập khẩu cá nhân) cũng bị loại trừ khỏi đối tượng.
Câu 27 | Phạm vi được chi trả
Trong số các mô tả về phạm vi được chi trả trợ cấp cứu trợ của chế độ cứu trợ thiệt hại do tác dụng phụ của thuốc, đâu là mô tả đúng?
Ngay cả thiệt hại sức khỏe nhẹ, phát sinh do sử dụng thuốc đúng đắn nhưng thuyên giảm mà không cần điều trị đặc biệt tại cơ sở y tế, vẫn thuộc đối tượng cấp phát.
Đối tượng của trợ cấp cứu trợ bao gồm cả trường hợp được công nhận là cần điều trị nội trú nhưng bất khả kháng phải điều trị tại nhà.
Trường hợp không thể phán đoán rõ có phải do tác dụng phụ của thuốc hay không thì không thể tiến hành yêu cầu trợ cấp.
Thiệt hại sức khỏe do sử dụng thuốc không đúng đắn cũng thuộc đối tượng của trợ cấp cứu trợ.
Đáp ánB. Đối tượng của trợ cấp cứu trợ bao gồm cả trường hợp được công nhận là cần điều trị nội trú nhưng bất khả kháng phải điều trị tại nhà.
Mức độ thiệt hại sức khỏe thuộc đối tượng của trợ cấp cứu trợ là trường hợp cần được điều trị y tế ở mức độ cần nhập viện v.v. do bệnh từ tác dụng phụ, và không nhất thiết chỉ giới hạn ở trường hợp đã thực sự điều trị nội trú, mà bao gồm cả trường hợp được công nhận là cần điều trị nội trú nhưng bất khả kháng phải điều trị tại nhà. Thiệt hại sức khỏe do sử dụng thuốc không đúng đắn không thuộc đối tượng, và thiệt hại sức khỏe nhẹ thuyên giảm mà không cần điều trị đặc biệt tại cơ sở y tế cũng không thuộc đối tượng cấp phát. Ngay cả khi chưa rõ có phải do tác dụng phụ hay không, vẫn có thể tiến hành yêu cầu trợ cấp.
Câu 28 | Hồ sơ cần thiết
Trong số các mô tả về yêu cầu trợ cấp cứu trợ đối với thiệt hại do tác dụng phụ khi sử dụng thuốc cần hướng dẫn sử dụng hoặc thuốc không kê đơn, đâu là mô tả đúng?
Khi yêu cầu, ngoài giấy chẩn đoán của bác sĩ, giấy tờ chứng minh chi phí y tế đã sử dụng (giấy chứng minh khám chữa bệnh) v.v., còn cần giấy chứng minh bán hàng v.v. do người mở hiệu thuốc, người kinh doanh bán thuốc đã bán thuốc đó lập.
Yêu cầu trợ cấp chỉ giới hạn ở chính bản thân người bị thiệt hại sức khỏe, gia đình không thể thực hiện yêu cầu.
Chuyên gia tham gia vào việc bán thuốc v.v. không cần đáp ứng yêu cầu cấp giấy chứng minh bán hàng dù người mua có yêu cầu.
Khi yêu cầu cần giấy chẩn đoán của bác sĩ hay giấy tờ chứng minh chi phí y tế đã sử dụng (giấy chứng minh khám chữa bệnh), nhưng không cần giấy tờ như giấy chứng minh bán hàng do người mở hiệu thuốc hay người kinh doanh bán thuốc lập.
Đáp ánA. Khi yêu cầu, ngoài giấy chẩn đoán của bác sĩ, giấy tờ chứng minh chi phí y tế đã sử dụng (giấy chứng minh khám chữa bệnh) v.v., còn cần giấy chứng minh bán hàng v.v. do người mở hiệu thuốc, người kinh doanh bán thuốc đã bán thuốc đó lập.
Khi yêu cầu trợ cấp cứu trợ, ngoài giấy chẩn đoán của bác sĩ, giấy chứng minh khám chữa bệnh v.v., còn cần giấy chứng minh bán hàng v.v. do người mở hiệu thuốc, người kinh doanh bán thuốc đã bán thuốc đó lập. Yêu cầu trợ cấp có thể do chính bản thân người bị thiệt hại sức khỏe hoặc gia đình thực hiện. Chuyên gia tham gia vào việc bán thuốc v.v. được cho là cần có sự ứng phó thuận lợi đối với việc cấp giấy chứng minh bán hàng, nên mô tả cho rằng không cần đáp ứng yêu cầu cấp giấy là sai.
Câu 29 | Trung tâm PL Dược phẩm
Trong số các mô tả về Trung tâm PL Dược phẩm, đâu là mô tả đúng?
Là cơ quan tư vấn do Cơ quan Dược phẩm và Thiết bị Y tế mở ra.
Người tiêu dùng, khi đàm phán với doanh nghiệp sản xuất bán ra về khiếu nại liên quan đến thuốc hoặc dược phẩm chuẩn (bao gồm cả thiệt hại ngoài thiệt hại sức khỏe), có thể tiếp nhận tư vấn từ lập trường công bằng - trung lập, và làm trung gian, điều chỉnh - hòa giải cho việc đàm phán.
Mục đích là dẫn đến giải quyết bằng con đường tòa án.
Trong trường hợp doanh nghiệp dược phẩm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sản phẩm khiếm khuyết v.v., vì thuộc đối tượng cấp phát của chế độ cứu trợ thiệt hại do tác dụng phụ của thuốc, nên việc tư vấn tại Trung tâm PL Dược phẩm không được khuyến khích.
Đáp ánB. Người tiêu dùng, khi đàm phán với doanh nghiệp sản xuất bán ra về khiếu nại liên quan đến thuốc hoặc dược phẩm chuẩn (bao gồm cả thiệt hại ngoài thiệt hại sức khỏe), có thể tiếp nhận tư vấn từ lập trường công bằng - trung lập, và làm trung gian, điều chỉnh - hòa giải cho việc đàm phán.
Trung tâm PL Dược phẩm được Liên đoàn các Đoàn thể Dược phẩm Nhật Bản mở ra cùng thời điểm Luật PL có hiệu lực vào tháng 7 năm Heisei 7 (không phải do Cơ quan Dược phẩm và Thiết bị Y tế), tiếp nhận tư vấn về khiếu nại liên quan đến thuốc hoặc dược phẩm chuẩn (bao gồm cả thiệt hại ngoài thiệt hại sức khỏe) từ lập trường công bằng - trung lập, làm trung gian, điều chỉnh - hòa giải cho việc đàm phán, với mục đích dẫn đến giải quyết nhanh chóng mà không cần qua con đường tòa án. Trường hợp doanh nghiệp dược phẩm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sản phẩm khiếm khuyết v.v. thì không thuộc đối tượng của chế độ cứu trợ, và việc tư vấn tại Trung tâm PL Dược phẩm được khuyến khích.
Câu 30 | Sản phẩm nguồn gốc sinh học
Trong số các mô tả về cứu trợ thiệt hại sức khỏe, đâu là mô tả đúng?
Thiệt hại sức khỏe do nhiễm bệnh v.v. qua sản phẩm có nguồn gốc sinh học được cứu trợ theo chế độ cứu trợ thiệt hại do tác dụng phụ của thuốc.
Chế độ cứu trợ thiệt hại do nhiễm bệnh từ sản phẩm có nguồn gốc sinh học là chế độ cấp phát trợ cấp cho bệnh, tàn tật hoặc tử vong do nhiễm bệnh v.v. qua sản phẩm có nguồn gốc sinh học, phát sinh dù đã sử dụng đúng đắn sản phẩm có nguồn gốc sinh học từ ngày 1 tháng 4 năm 2004 trở đi.
Cơ quan Dược phẩm và Thiết bị Y tế, tuy nhận ủy thác từ các doanh nghiệp dược phẩm liên quan hoặc nhà nước, nhưng không thực hiện nghiệp vụ chi trả trợ cấp quản lý sức khỏe hay chi phí chăm sóc cho bệnh nhân SMON đã đạt được hòa giải tại tòa án.
Chế độ cứu trợ thiệt hại do tác dụng phụ của thuốc, xuất phát từ vụ Thalidomide, vụ SMON v.v., nhằm mục đích cứu trợ nhanh chóng thiệt hại sức khỏe do tác dụng phụ của thuốc, với tư cách là chế độ công do trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp dược phẩm, được thành lập nhờ sửa đổi Luật Dược sự năm 1959.
Đáp ánB. Chế độ cứu trợ thiệt hại do nhiễm bệnh từ sản phẩm có nguồn gốc sinh học là chế độ cấp phát trợ cấp cho bệnh, tàn tật hoặc tử vong do nhiễm bệnh v.v. qua sản phẩm có nguồn gốc sinh học, phát sinh dù đã sử dụng đúng đắn sản phẩm có nguồn gốc sinh học từ ngày 1 tháng 4 năm 2004 trở đi.
Chế độ cứu trợ thiệt hại do nhiễm bệnh từ sản phẩm có nguồn gốc sinh học được thành lập nhân dịp sửa đổi Luật Dược sự năm 2002, cấp phát trợ cấp cho bệnh, tàn tật hoặc tử vong do nhiễm bệnh v.v. phát sinh dù đã sử dụng đúng đắn sản phẩm có nguồn gốc sinh học từ ngày 1 tháng 4 năm 2004 trở đi. Chế độ cứu trợ thiệt hại do tác dụng phụ của thuốc được thành lập nhờ sửa đổi Luật Dược sự năm 1979. Cơ quan Dược phẩm và Thiết bị Y tế nhận ủy thác từ các doanh nghiệp dược phẩm liên quan hoặc nhà nước để thực hiện nghiệp vụ chi trả trợ cấp quản lý sức khỏe hay chi phí chăm sóc cho bệnh nhân SMON. Nhiễm bệnh v.v. qua sản phẩm có nguồn gốc sinh học được cứu trợ theo một chế độ khác, riêng biệt với chế độ cứu trợ thiệt hại do tác dụng phụ của thuốc.
Câu 31 | Thuốc cảm dạng ống
Trong số các mô tả về thuốc cảm dạng ống, đâu là mô tả đúng?
So với các dạng bào chế khác (viên nén, thuốc bột v.v.), thuốc dạng ống có tốc độ hấp thu thành phần có hiệu quả chậm hơn, nồng độ trong máu không đạt mức cao một cách nhanh chóng, nên đã được xác nhận là không có nguy cơ gây tác dụng phụ khi sử dụng ở liều dùng thông thường.
Tác dụng phụ nghiêm trọng đã xảy ra là viêm phổi kẽ, với các trường hợp tử vong phát sinh trong khoảng thời gian từ năm 1959 đến năm 1965.
Đã được xác nhận là nếu tuân thủ liều dùng thông thường thì không có nguy cơ gây tác dụng phụ.
Do tác dụng phụ nghiêm trọng (sốc) từ việc sử dụng thuốc cảm dạng ống có phối hợp thành phần giảm đau hạ sốt là aminopyrin, sulpyrin, đã xảy ra tổng cộng 38 trường hợp tử vong trong khoảng thời gian từ năm 1959 đến năm 1965.
Đáp ánD. Do tác dụng phụ nghiêm trọng (sốc) từ việc sử dụng thuốc cảm dạng ống có phối hợp thành phần giảm đau hạ sốt là aminopyrin, sulpyrin, đã xảy ra tổng cộng 38 trường hợp tử vong trong khoảng thời gian từ năm 1959 đến năm 1965.
Do tác dụng phụ nghiêm trọng (sốc) từ việc sử dụng thuốc cảm dạng ống có phối hợp aminopyrin, sulpyrin, đã xảy ra tổng cộng 38 trường hợp tử vong trong khoảng thời gian từ năm 1959 đến năm 1965. So với các dạng bào chế khác, thuốc dạng ống có tốc độ hấp thu nhanh hơn, nồng độ trong máu đạt mức cao một cách nhanh chóng, nên đã được xác nhận là dễ gây tác dụng phụ ngay cả ở liều dùng thông thường. Tác dụng phụ là sốc, còn viêm phổi kẽ là trường hợp của tiểu sài hồ thang hay thuốc cảm không kê đơn.
Câu 32 | Ứng phó với thuốc dạng ống
Trong số các mô tả về ứng phó đối với trường hợp tác dụng phụ do thuốc cảm dạng ống, đâu là mô tả đúng?
Năm 1965, Bộ Y tế (khi đó) đã yêu cầu các doanh nghiệp dược phẩm liên quan thu hồi sản phẩm thuốc cảm dạng ống.
Năm 1965, Bộ Y tế (khi đó) đã chỉ thị các doanh nghiệp dược phẩm liên quan phân phát Thông tin an toàn khẩn cấp.
Bộ Y tế (khi đó) đã chỉ thị các doanh nghiệp dược phẩm liên quan nhanh chóng chuyển sang thành phần thay thế.
Chỉ dừng lại ở việc cảnh báo mà không cần thiết phải ngừng bán ngay lập tức.
Đáp ánA. Năm 1965, Bộ Y tế (khi đó) đã yêu cầu các doanh nghiệp dược phẩm liên quan thu hồi sản phẩm thuốc cảm dạng ống.
Đối với thuốc cảm dạng ống, do đã được xác nhận là dễ gây tác dụng phụ ngay cả ở liều dùng thông thường, nên năm 1965, Bộ Y tế (khi đó) đã yêu cầu các doanh nghiệp dược phẩm liên quan thu hồi sản phẩm. Sau đó, năm 1970, tiêu chuẩn phê duyệt thuốc cảm không kê đơn được ban hành. Chỉ thị phân phát Thông tin an toàn khẩn cấp là ứng phó với viêm phổi kẽ do tiểu sài hồ thang (tháng 3 năm 1996), chỉ thị chuyển sang thành phần thay thế (PSE v.v.) là ứng phó với thuốc có chứa PPA, còn cảnh báo "không cần thiết phải ngừng bán ngay lập tức" là ứng phó vào tháng 11 năm 2000 liên quan đến PPA, đều là ứng phó với các trường hợp khác.
Câu 33 | Tiểu sài hồ thang
Trong số các mô tả về viêm phổi kẽ do tiểu sài hồ thang, đâu là mô tả đúng?
Người sử dụng tiểu sài hồ thang bị viêm phổi kẽ và dẫn đến diễn biến nghiêm trọng bao gồm tử vong, là bệnh nhân suy thận mạn.
Do có trường hợp bệnh nhân sử dụng tiểu sài hồ thang dẫn đến diễn biến nghiêm trọng bao gồm tử vong, nên vào tháng 3 năm 1996, Bộ Y tế (khi đó) đã yêu cầu các doanh nghiệp dược phẩm liên quan thu hồi sản phẩm tiểu sài hồ thang.
Tác dụng phụ nghiêm trọng phát sinh do dùng phối hợp tiểu sài hồ thang với chế phẩm interferon là sốc.
Do có báo cáo về viêm phổi kẽ từ các trường hợp dùng phối hợp tiểu sài hồ thang với chế phẩm interferon, nên vào tháng 1 năm 1994, chú ý khi sử dụng đã được sửa đổi để coi việc dùng phối hợp với chế phẩm interferon là chống chỉ định.
Đáp ánD. Do có báo cáo về viêm phổi kẽ từ các trường hợp dùng phối hợp tiểu sài hồ thang với chế phẩm interferon, nên vào tháng 1 năm 1994, chú ý khi sử dụng đã được sửa đổi để coi việc dùng phối hợp với chế phẩm interferon là chống chỉ định.
Do có báo cáo về viêm phổi kẽ từ các trường hợp dùng phối hợp tiểu sài hồ thang với chế phẩm interferon, nên vào tháng 1 năm 1994, chú ý khi sử dụng đã được sửa đổi để coi việc dùng phối hợp là chống chỉ định. Sau đó, cũng có trường hợp bệnh nhân viêm gan mạn tính (không phải bệnh nhân suy thận mạn) sử dụng tiểu sài hồ thang bị viêm phổi kẽ và dẫn đến diễn biến nghiêm trọng bao gồm tử vong, nên vào tháng 3 năm 1996, điều được chỉ thị không phải là thu hồi sản phẩm mà là phân phát Thông tin an toàn khẩn cấp. Sốc là trường hợp của thuốc cảm dạng ống.
Câu 34 | Tiếp nối tiểu sài hồ thang
Trong số các mô tả về viêm phổi kẽ do tiểu sài hồ thang, đâu là mô tả SAI?
Viêm phổi kẽ do tiểu sài hồ thang đã được ghi trong chú ý khi sử dụng từ tháng 4 năm 1991.
Vào tháng 3 năm 1996, Bộ Y tế (khi đó) đã chỉ thị các doanh nghiệp dược phẩm liên quan phân phát Thông tin an toàn khẩn cấp.
Sau khi chú ý khi sử dụng được sửa đổi để coi việc dùng phối hợp với chế phẩm interferon là chống chỉ định, không có trường hợp phát sinh viêm phổi kẽ nào được báo cáo nữa.
Cũng có trường hợp bệnh nhân viêm gan mạn tính sử dụng tiểu sài hồ thang bị viêm phổi kẽ và dẫn đến diễn biến nghiêm trọng bao gồm tử vong.
Đáp ánC. Sau khi chú ý khi sử dụng được sửa đổi để coi việc dùng phối hợp với chế phẩm interferon là chống chỉ định, không có trường hợp phát sinh viêm phổi kẽ nào được báo cáo nữa.
Ngay cả sau khi chú ý khi sử dụng được sửa đổi vào tháng 1 năm 1994 để coi việc dùng phối hợp với chế phẩm interferon là chống chỉ định, vẫn có trường hợp bệnh nhân viêm gan mạn tính sử dụng tiểu sài hồ thang bị viêm phổi kẽ và dẫn đến diễn biến nghiêm trọng bao gồm tử vong. Vì vậy, vào tháng 3 năm 1996, Bộ Y tế (khi đó) đã chỉ thị các doanh nghiệp dược phẩm liên quan phân phát Thông tin an toàn khẩn cấp. Viêm phổi kẽ đã được ghi trong chú ý khi sử dụng từ tháng 4 năm 1991, và ba lựa chọn còn lại đúng theo Guide.
Câu 35 | Viêm phổi do thuốc cảm
Trong số các mô tả về viêm phổi kẽ do thuốc cảm không kê đơn, đâu là mô tả đúng?
Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi đã chỉ thị các doanh nghiệp dược phẩm liên quan phân phát Thông tin an toàn khẩn cấp.
Triệu chứng ban đầu của viêm phổi kẽ có thể dễ dàng phân biệt với các triệu chứng cảm thông thường vốn là công dụng của thuốc cảm không kê đơn.
Chỉ đối với các sản phẩm có trường hợp phát sinh viêm phổi kẽ được báo cáo tính đến tháng 5 năm 2003, Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi đã yêu cầu các doanh nghiệp dược phẩm liên quan thu hồi sản phẩm đó vào tháng 6 cùng năm, và không thực hiện sửa đổi chú ý khi sử dụng.
Tính đến tháng 5 năm 2003, đã có tổng cộng 26 trường hợp bị nghi ngờ là viêm phổi kẽ do sử dụng thuốc cảm không kê đơn được báo cáo, và dựa trên đó, vào tháng 6 cùng năm, chỉ thị sửa đổi chú ý khi sử dụng đã được ban hành cho toàn bộ thuốc cảm không kê đơn.
Đáp ánD. Tính đến tháng 5 năm 2003, đã có tổng cộng 26 trường hợp bị nghi ngờ là viêm phổi kẽ do sử dụng thuốc cảm không kê đơn được báo cáo, và dựa trên đó, vào tháng 6 cùng năm, chỉ thị sửa đổi chú ý khi sử dụng đã được ban hành cho toàn bộ thuốc cảm không kê đơn.
Tính đến tháng 5 năm 2003, đã có tổng cộng 26 trường hợp bị nghi ngờ là viêm phổi kẽ do sử dụng thuốc cảm không kê đơn được báo cáo, và Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi đã chỉ thị sửa đổi chú ý khi sử dụng cho toàn bộ thuốc cảm không kê đơn vào tháng 6 cùng năm. Ứng phó là chỉ thị sửa đổi chú ý khi sử dụng, không phải yêu cầu thu hồi sản phẩm (trường hợp thuốc cảm dạng ống) hay chỉ thị phân phát Thông tin an toàn khẩn cấp (trường hợp tiểu sài hồ thang). Viêm phổi kẽ là tác dụng phụ nghiêm trọng, và triệu chứng ban đầu của nó được cho là khó phân biệt với các triệu chứng cảm thông thường.
Câu 36 | Cảnh báo thuốc cảm
Trong số các mô tả về sửa đổi chú ý khi sử dụng dựa trên viêm phổi kẽ do thuốc cảm không kê đơn, đâu là mô tả đúng?
Nhờ việc sửa đổi, việc bán các thuốc cảm không kê đơn có báo cáo phát sinh viêm phổi kẽ đã bị đình chỉ.
Vì hiếm khi xảy ra triệu chứng nghiêm trọng của viêm phổi kẽ, và triệu chứng đó khó phân biệt với các triệu chứng cảm thông thường, nên cảnh báo "nếu triệu chứng trở nặng thì ngừng uống và đi khám bác sĩ" đã được đưa ra.
Trước khi sửa đổi, hoàn toàn không có bất kỳ chú ý nào như "nếu uống 5-6 lần mà triệu chứng không cải thiện thì ngừng uống và trao đổi với chuyên gia" v.v. đối với thuốc cảm không kê đơn, và được cho là không có cảnh báo nào liên quan đến việc uống thuốc.
Dựa trên sự phát sinh viêm phổi kẽ, tiêu chuẩn phê duyệt thuốc cảm không kê đơn đã được ban hành vào năm 1970.
Đáp ánB. Vì hiếm khi xảy ra triệu chứng nghiêm trọng của viêm phổi kẽ, và triệu chứng đó khó phân biệt với các triệu chứng cảm thông thường, nên cảnh báo "nếu triệu chứng trở nặng thì ngừng uống và đi khám bác sĩ" đã được đưa ra.
Trong lần sửa đổi tháng 6 năm 2003, vì hiếm khi xảy ra triệu chứng nghiêm trọng của viêm phổi kẽ, và triệu chứng đó khó phân biệt với các triệu chứng cảm thông thường, nên cảnh báo "nếu triệu chứng trở nặng thì ngừng uống và đi khám bác sĩ" đã được đưa ra. Trước đó cũng đã có các chú ý như "nếu uống 5-6 lần mà triệu chứng không cải thiện thì ngừng uống và trao đổi với chuyên gia" v.v. Không phải biện pháp đình chỉ bán, và việc ban hành tiêu chuẩn phê duyệt thuốc cảm không kê đơn là ứng phó vào năm 1970 đối với trường hợp thuốc cảm dạng ống.
Câu 37 | PPA
Trong số các mô tả về phenylpropanolamin hydroclorid (PPA), đâu là mô tả đúng?
Được phối hợp vào thuốc trị viêm mũi dạng uống, thuốc trị ho long đờm, thuốc cảm v.v. nhằm mục đích loại bỏ sung huyết mũi hay sung huyết kết mạc, làm giảm nhẹ các triệu chứng như nghẹt mũi v.v.
Tại Nhật Bản, không được phê duyệt làm thuốc trị viêm mũi dạng uống, mà được phê duyệt làm thuốc ức chế cảm giác thèm ăn.
Về thành phần thay thế, không phải pseudoephedrin hydroclorid (PSE) mà aminopyrin đã được chỉ thị chuyển sang nhanh chóng.
Tại Mỹ, đã có báo cáo về mối liên quan với nguy cơ phát sinh đột quỵ xuất huyết khi phụ nữ sử dụng ở liều cao hơn hàm lượng phối hợp tại Nhật Bản, với tư cách là thuốc trị tiểu đường.
Đáp ánA. Được phối hợp vào thuốc trị viêm mũi dạng uống, thuốc trị ho long đờm, thuốc cảm v.v. nhằm mục đích loại bỏ sung huyết mũi hay sung huyết kết mạc, làm giảm nhẹ các triệu chứng như nghẹt mũi v.v.
PPA được phối hợp vào thuốc trị viêm mũi dạng uống, thuốc trị ho long đờm, thuốc cảm v.v. nhằm mục đích loại bỏ sung huyết mũi hay sung huyết kết mạc, làm giảm nhẹ các triệu chứng như nghẹt mũi v.v. Điều được báo cáo tại Mỹ là mối liên quan với nguy cơ phát sinh đột quỵ xuất huyết khi phụ nữ sử dụng ở liều cao hơn hàm lượng phối hợp tại Nhật Bản với tư cách là thuốc ức chế cảm giác thèm ăn, và tại Nhật Bản PPA không được phê duyệt làm thuốc ức chế cảm giác thèm ăn. Thành phần được chỉ thị chuyển sang là pseudoephedrin hydroclorid (PSE) v.v., còn aminopyrin là thành phần xuất hiện trong trường hợp thuốc cảm dạng ống.
Câu 38 | Ứng phó với PPA
Trong số các mô tả về ứng phó đối với thuốc có chứa phenylpropanolamin hydroclorid (PPA), đâu là mô tả SAI?
Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi đã chỉ thị các doanh nghiệp dược phẩm liên quan sửa đổi chú ý khi sử dụng, triệt để cung cấp thông tin, cùng với việc nhanh chóng chuyển sang thành phần thay thế là pseudoephedrin hydroclorid (PSE) v.v.
Vào tháng 5 năm 2000, tại Mỹ đã có báo cáo cho rằng có mối liên quan cao với nguy cơ phát sinh đột quỵ xuất huyết khi phụ nữ sử dụng với tư cách là thuốc ức chế cảm giác thèm ăn.
Tại Nhật Bản, tiếp nhận báo cáo từ Mỹ, vào tháng 11 năm 2000 đã ngừng bán ngay lập tức toàn bộ thuốc có chứa PPA.
Trong số các trường hợp tác dụng phụ như xuất huyết não v.v. được báo cáo tính đến tháng 8 năm 2003, phần lớn là do sử dụng vượt quá phạm vi cách dùng, liều dùng hoặc do sử dụng ở bệnh nhân cao huyết áp thuộc diện chống chỉ định.
Đáp ánC. Tại Nhật Bản, tiếp nhận báo cáo từ Mỹ, vào tháng 11 năm 2000 đã ngừng bán ngay lập tức toàn bộ thuốc có chứa PPA.
Tại Nhật Bản, do PPA không được phê duyệt làm thuốc ức chế cảm giác thèm ăn v.v., nên vào tháng 11 năm 2000, việc cảnh báo đã được thực hiện theo hướng không cần thiết phải ngừng bán ngay lập tức, yêu cầu người mắc bệnh tim hay người có tiền sử xuất huyết não v.v. không sử dụng, chứ không phải ngừng bán ngay lập tức. Sau đó, tính đến tháng 8 năm 2003, đã có nhiều trường hợp tác dụng phụ như xuất huyết não v.v. (phần lớn do sử dụng quá liều hoặc sử dụng ở bệnh nhân cao huyết áp thuộc diện chống chỉ định) được báo cáo, và việc sửa đổi chú ý khi sử dụng, triệt để cung cấp thông tin v.v. cùng với việc chuyển sang PSE v.v. đã được chỉ thị. Ba lựa chọn còn lại đúng.
Câu 39 | Tuần lễ Thuốc và Sức khỏe
Trong số các mô tả về "Tuần lễ Thuốc và Sức khỏe", đâu là mô tả đúng?
Nhằm mục đích góp phần duy trì - nâng cao vệ sinh sức khỏe thông qua việc phổ biến rộng rãi cho người dân kiến thức đúng đắn về đặc tính của thuốc cũng như việc sử dụng, xử lý v.v., được thực hiện trong 1 tuần từ ngày 17 đến ngày 23 tháng 10 hằng năm.
Không nhằm mục đích phổ biến rộng rãi cho người dân kiến thức đúng đắn về đặc tính của thuốc cũng như việc sử dụng, xử lý v.v., mà chỉ nhằm mục đích duy nhất là thúc đẩy phòng chống lạm dụng ma túy, được thực hiện bởi nhà nước, chính quyền địa phương, các đoàn thể liên quan v.v.
Được thực hiện trong 1 tháng từ ngày 20 tháng 6 đến ngày 19 tháng 7 hằng năm, nhằm mục đích thúc đẩy phòng chống lạm dụng ma túy.
Chủ thể thực hiện chỉ giới hạn ở doanh nghiệp dược phẩm, nhà nước, chính quyền địa phương, các đoàn thể liên quan v.v. không tham gia.
Đáp ánA. Nhằm mục đích góp phần duy trì - nâng cao vệ sinh sức khỏe thông qua việc phổ biến rộng rãi cho người dân kiến thức đúng đắn về đặc tính của thuốc cũng như việc sử dụng, xử lý v.v., được thực hiện trong 1 tuần từ ngày 17 đến ngày 23 tháng 10 hằng năm.
"Tuần lễ Thuốc và Sức khỏe" nhằm mục đích góp phần duy trì - nâng cao vệ sinh sức khỏe thông qua việc phổ biến rộng rãi cho người dân kiến thức đúng đắn về đặc tính của thuốc cũng như việc sử dụng, xử lý v.v., được thực hiện trong 1 tuần từ ngày 17 đến ngày 23 tháng 10 hằng năm, với các hoạt động tuyên truyền, sự kiện v.v. do nhà nước, chính quyền địa phương, các đoàn thể liên quan v.v. thực hiện. Phong trào phổ biến "Dame. Zettai." mới là hoạt động được thực hiện trong 1 tháng từ ngày 20 tháng 6 đến ngày 19 tháng 7 nhằm thúc đẩy phòng chống lạm dụng ma túy, và chủ thể thực hiện không giới hạn ở doanh nghiệp dược phẩm.
Câu 40 | Dame Zettai
Trong số các mô tả về phong trào phổ biến "Dame. Zettai." và phòng chống lạm dụng ma túy, đâu là mô tả đúng?
Được thực hiện trong 1 tháng từ ngày 20 tháng 6 đến ngày 19 tháng 7 hằng năm, nhằm phổ biến rộng rãi "Ngày Quốc tế phòng chống lạm dụng ma túy 26 tháng 6", tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ hơn việc phòng chống lạm dụng ma túy.
Lạm dụng ma túy hay nghiện ma túy chỉ giới hạn ở nguyên nhân từ chất ma túy bất hợp pháp (ma túy, chất kích thích v.v.), không thể phát sinh do thuốc không kê đơn.
Được thực hiện trong 1 tuần từ ngày 17 đến ngày 23 tháng 10 hằng năm.
Việc giáo dục nâng cao nhận thức liên quan đến tầm quan trọng của việc sử dụng thuốc đúng đắn v.v. không nên thực hiện cho học sinh tiểu học, trung học cơ sở.
Đáp ánA. Được thực hiện trong 1 tháng từ ngày 20 tháng 6 đến ngày 19 tháng 7 hằng năm, nhằm phổ biến rộng rãi "Ngày Quốc tế phòng chống lạm dụng ma túy 26 tháng 6", tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ hơn việc phòng chống lạm dụng ma túy.
Phong trào phổ biến "Dame. Zettai." nhằm phổ biến rộng rãi "Ngày Quốc tế phòng chống lạm dụng ma túy 26 tháng 6", tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ hơn việc phòng chống lạm dụng ma túy, được thực hiện trong 1 tháng từ ngày 20 tháng 6 đến ngày 19 tháng 7 hằng năm bởi nhà nước, chính quyền địa phương, các đoàn thể liên quan v.v. Khoảng thời gian 1 tuần từ ngày 17 đến ngày 23 tháng 10 là "Tuần lễ Thuốc và Sức khỏe". Lạm dụng ma túy hay nghiện ma túy không chỉ giới hạn ở nguyên nhân từ chất ma túy bất hợp pháp mà còn có thể phát sinh do cả thuốc không kê đơn, và việc giáo dục nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc sử dụng thuốc đúng đắn v.v. ngay từ khi còn là học sinh tiểu học, trung học cơ sở được cho là quan trọng.
Luyện tập: giải các câu hỏi trên trang này
Đây là công cụ luyện tập với câu hỏi ngẫu nhiên (hoạt động khi JavaScript được bật). Bạn vẫn có thể đọc toàn bộ câu hỏi và phần giải thích ở trên.
* Lời giải là thông tin phục vụ việc học. Phạm vi ra đề và chế độ thi có thể thay đổi theo từng năm, vì vậy hãy luôn kiểm tra thông báo chính thức của đơn vị tổ chức thi.
Trang này là bản dịch từ nguyên bản tiếng Nhật. Nếu nội dung bản dịch và nguyên bản khác nhau, bản tiếng Nhật sẽ được ưu tiên. Xem nguyên bản tiếng Nhật