【Bài đọc】Người ta hay nghĩ thư viện là nơi cho mượn sách, nhưng vai trò của nó đã mở rộng dần theo thời đại. Thư viện ngày trước mang đậm tính chất một cơ sở lưu giữ số tài liệu ít ỏi và cho những ai cần được xem. Đó là vì sách giấy đắt đỏ, số cuốn mà một cá nhân có thể sở hữu rất ít. Thế nhưng khi in ấn rẻ đi và sách bắt đầu có mặt trong cả các gia đình, thì chỉ đặt tài liệu ở đó thôi không còn kéo người ta đến nữa. Vì vậy thư viện dịch trọng tâm sang thành nơi giúp người đọc tìm tài liệu. Đó là công việc chỉ ra cụm tài liệu phù hợp với mục đích cho người chưa biết mình nên đọc gì. Những năm gần đây, mặt là nơi mọi người mang điều đã tra cứu đến để cùng bàn luận, và là nơi thu thập lưu giữ tư liệu của địa phương, lại càng đậm nét hơn. Việc trong thư viện có bố trí chỗ ngồi được phép trò chuyện và những tấm ảnh cũ của địa phương được sắp xếp lại chính là biểu hiện của điều đó. Nhìn như vậy thì có thể nói cái nằm ở trung tâm của thư viện không phải bản thân cuốn sách, mà là chức năng nối con người với thông tin. Việc cho mượn chỉ là một trong những hình thức mà chức năng ấy khoác lên mình. 【Câu hỏi】Phương án nào khớp với nội dung bài đọc?
Thư viện ngày trước mang đậm tính chất một cơ sở lưu giữ số tài liệu ít ỏi và cho những ai cần được xem.
Công việc thu thập và lưu giữ tư liệu địa phương đang dần rời khỏi vai trò của thư viện.
Tác giả cho rằng chính việc cho mượn mới là chức năng nằm ở trung tâm của thư viện.
Khi in ấn rẻ đi và sách có mặt trong các gia đình thì người tới thư viện lại còn tăng lên.
Đáp ánA. Thư viện ngày trước mang đậm tính chất một cơ sở lưu giữ số tài liệu ít ỏi và cho những ai cần được xem.
Đáp án đúng là phương án khớp với câu thứ hai của bài: thư viện ngày trước mang đậm tính chất một cơ sở lưu giữ số tài liệu ít ỏi và cho những ai cần được xem. Ý "người tới lại còn tăng lên" chỏi với câu "chỉ đặt tài liệu ở đó thôi không còn kéo người ta đến nữa". Ý "chính việc cho mượn mới là trung tâm" chỏi với câu cuối "việc cho mượn chỉ là một trong những hình thức". Ý "đang dần rời khỏi vai trò" thì ngược hẳn với câu nói rằng mặt lưu giữ tư liệu địa phương đang đậm nét hơn.
Câu 2 | Bài đọc thư viện: từ chỉ định
【Bài đọc】Người ta hay nghĩ thư viện là nơi cho mượn sách, nhưng vai trò của nó đã mở rộng dần theo thời đại. Thư viện ngày trước mang đậm tính chất một cơ sở lưu giữ số tài liệu ít ỏi và cho những ai cần được xem. Đó là vì sách giấy đắt đỏ, số cuốn mà một cá nhân có thể sở hữu rất ít. Thế nhưng khi in ấn rẻ đi và sách bắt đầu có mặt trong cả các gia đình, thì chỉ đặt tài liệu ở đó thôi không còn kéo người ta đến nữa. Vì vậy thư viện dịch trọng tâm sang thành nơi giúp người đọc tìm tài liệu. Đó là công việc chỉ ra cụm tài liệu phù hợp với mục đích cho người chưa biết mình nên đọc gì. Những năm gần đây, mặt là nơi mọi người mang điều đã tra cứu đến để cùng bàn luận, và là nơi thu thập lưu giữ tư liệu của địa phương, lại càng đậm nét hơn. Việc trong thư viện có bố trí chỗ ngồi được phép trò chuyện và những tấm ảnh cũ của địa phương được sắp xếp lại chính là biểu hiện của điều đó. Nhìn như vậy thì có thể nói cái nằm ở trung tâm của thư viện không phải bản thân cuốn sách, mà là chức năng nối con người với thông tin. Việc cho mượn chỉ là một trong những hình thức mà chức năng ấy khoác lên mình. 【Câu hỏi】Trong câu được gạch chân "Việc trong thư viện có bố trí chỗ ngồi được phép trò chuyện và những tấm ảnh cũ của địa phương được sắp xếp lại chính là biểu hiện của điều đó", cụm "điều đó" chỉ nội dung nào là thích hợp nhất?
Việc thư viện dịch trọng tâm sang thành nơi giúp người chưa biết nên đọc gì tìm ra tài liệu
Việc cái nằm ở trung tâm của thư viện không phải bản thân cuốn sách mà là chức năng nối con người với thông tin
Việc ngày trước sách giấy đắt đỏ và số cuốn một cá nhân có thể sở hữu rất ít
Việc thư viện đang làm đậm nét thêm mặt là nơi mọi người mang điều đã tra cứu đến để cùng bàn luận và là nơi thu thập lưu giữ tư liệu địa phương
Đáp ánD. Việc thư viện đang làm đậm nét thêm mặt là nơi mọi người mang điều đã tra cứu đến để cùng bàn luận và là nơi thu thập lưu giữ tư liệu địa phương
Từ chỉ định thì phải tìm về phía trước. Câu ngay trước đó nói mặt là nơi cùng bàn luận và nơi thu thập lưu giữ tư liệu địa phương đang đậm nét hơn, mà chỗ ngồi trò chuyện và việc sắp xếp ảnh cũ đúng là hai ví dụ cụ thể cho hai mặt ấy. Việc giúp tìm tài liệu là giai đoạn trước đó, chỗ ngồi và ảnh cũ không phải ví dụ của nó. Chuyện sách giấy đắt đỏ là lý do của thời kỳ xa hơn nữa, còn chức năng nối con người với thông tin là kết luận xuất hiện sau từ chỉ định, nên không thể là nội dung mà "điều đó" trỏ về phía trước.
Câu 3 | Bài đọc thư viện: chỗ trống
【Bài đọc】Người ta hay nghĩ thư viện là nơi cho mượn sách, nhưng vai trò của nó đã mở rộng dần theo thời đại. Thư viện ngày trước mang đậm tính chất một cơ sở lưu giữ số tài liệu ít ỏi và cho những ai cần được xem. Đó là vì sách giấy đắt đỏ, số cuốn mà một cá nhân có thể sở hữu rất ít. (chỗ trống), khi in ấn rẻ đi và sách bắt đầu có mặt trong cả các gia đình, thì chỉ đặt tài liệu ở đó thôi không còn kéo người ta đến nữa. Vì vậy thư viện dịch trọng tâm sang thành nơi giúp người đọc tìm tài liệu. Đó là công việc chỉ ra cụm tài liệu phù hợp với mục đích cho người chưa biết mình nên đọc gì. Những năm gần đây, mặt là nơi mọi người mang điều đã tra cứu đến để cùng bàn luận, và là nơi thu thập lưu giữ tư liệu của địa phương, lại càng đậm nét hơn. Việc trong thư viện có bố trí chỗ ngồi được phép trò chuyện và những tấm ảnh cũ của địa phương được sắp xếp lại chính là biểu hiện của điều đó. Nhìn như vậy thì có thể nói cái nằm ở trung tâm của thư viện không phải bản thân cuốn sách, mà là chức năng nối con người với thông tin. Việc cho mượn chỉ là một trong những hình thức mà chức năng ấy khoác lên mình. 【Câu hỏi】Từ nào điền vào chỗ trống là thích hợp nhất?
bởi vì (なぜなら, nazenara)
ví dụ (たとえば, tatoeba)
thế nhưng (ところが, tokoroga)
tức là (つまり, tsumari)
Đáp ánC. thế nhưng (ところが, tokoroga)
Trước chỗ trống là tình hình ngày xưa: vì sách giấy đắt đỏ nên thư viện lấy việc lưu giữ làm chính. Sau chỗ trống là sự đổi thay: in ấn rẻ đi và chỉ đặt tài liệu ở đó thì không còn kéo người ta đến, tức là đi ngược với dự đoán từ vế trước. Vậy từ nghịch chiều "thế nhưng" là đúng. Nếu là "ví dụ" thì vế sau phải là trường hợp cụ thể của vế trước; nếu là "tức là" thì phải là lời nói lại; nếu là "bởi vì" thì trong nguyên văn câu phải kết bằng からである, không cái nào hợp.
Câu 4 | Lý do của việc lưu giữ
【Bài đọc】Người ta hay nghĩ thư viện là nơi cho mượn sách, nhưng vai trò của nó đã mở rộng dần theo thời đại. Thư viện ngày trước mang đậm tính chất một cơ sở lưu giữ số tài liệu ít ỏi và cho những ai cần được xem. Đó là vì sách giấy đắt đỏ, số cuốn mà một cá nhân có thể sở hữu rất ít. Thế nhưng khi in ấn rẻ đi và sách bắt đầu có mặt trong cả các gia đình, thì chỉ đặt tài liệu ở đó thôi không còn kéo người ta đến nữa. Vì vậy thư viện dịch trọng tâm sang thành nơi giúp người đọc tìm tài liệu. Đó là công việc chỉ ra cụm tài liệu phù hợp với mục đích cho người chưa biết mình nên đọc gì. Những năm gần đây, mặt là nơi mọi người mang điều đã tra cứu đến để cùng bàn luận, và là nơi thu thập lưu giữ tư liệu của địa phương, lại càng đậm nét hơn. Việc trong thư viện có bố trí chỗ ngồi được phép trò chuyện và những tấm ảnh cũ của địa phương được sắp xếp lại chính là biểu hiện của điều đó. Nhìn như vậy thì có thể nói cái nằm ở trung tâm của thư viện không phải bản thân cuốn sách, mà là chức năng nối con người với thông tin. Việc cho mượn chỉ là một trong những hình thức mà chức năng ấy khoác lên mình. 【Câu hỏi】Vì sao thư viện ngày trước lại đặt nặng việc lưu giữ tài liệu và cho người ta xem?
Vì có nhiều người không biết mình nên đọc gì
Vì không đủ điều kiện để bố trí chỗ ngồi được phép trò chuyện trong thư viện
Vì cần lưu lại tư liệu địa phương cho đời sau
Vì sách giấy đắt đỏ và số cuốn một cá nhân có thể sở hữu rất ít
Đáp ánD. Vì sách giấy đắt đỏ và số cuốn một cá nhân có thể sở hữu rất ít
Khi đề hỏi lý do thì hãy tìm câu nêu căn cứ. Câu thứ ba của bài nói sách giấy đắt đỏ, số cuốn mà một cá nhân có thể sở hữu rất ít, và đó chính là căn cứ cho phần vừa nói ở trên về việc lấy lưu giữ làm chính. Mặt lưu lại tư liệu địa phương được nêu như điều đậm nét lên trong những năm gần đây chứ không phải lý do thời xưa. Việc giúp tìm tài liệu là vai trò của giai đoạn sau, còn chuyện chỗ ngồi trò chuyện thì bài không hề nêu như một lý do.
Câu 5 | Bài đọc thư viện: luận điểm
【Bài đọc】Người ta hay nghĩ thư viện là nơi cho mượn sách, nhưng vai trò của nó đã mở rộng dần theo thời đại. Thư viện ngày trước mang đậm tính chất một cơ sở lưu giữ số tài liệu ít ỏi và cho những ai cần được xem. Đó là vì sách giấy đắt đỏ, số cuốn mà một cá nhân có thể sở hữu rất ít. Thế nhưng khi in ấn rẻ đi và sách bắt đầu có mặt trong cả các gia đình, thì chỉ đặt tài liệu ở đó thôi không còn kéo người ta đến nữa. Vì vậy thư viện dịch trọng tâm sang thành nơi giúp người đọc tìm tài liệu. Đó là công việc chỉ ra cụm tài liệu phù hợp với mục đích cho người chưa biết mình nên đọc gì. Những năm gần đây, mặt là nơi mọi người mang điều đã tra cứu đến để cùng bàn luận, và là nơi thu thập lưu giữ tư liệu của địa phương, lại càng đậm nét hơn. Việc trong thư viện có bố trí chỗ ngồi được phép trò chuyện và những tấm ảnh cũ của địa phương được sắp xếp lại chính là biểu hiện của điều đó. Nhìn như vậy thì có thể nói cái nằm ở trung tâm của thư viện không phải bản thân cuốn sách, mà là chức năng nối con người với thông tin. Việc cho mượn chỉ là một trong những hình thức mà chức năng ấy khoác lên mình. 【Câu hỏi】Phương án nào là luận điểm của tác giả, thích hợp nhất?
Kỹ thuật in ấn tiến bộ khiến ý nghĩa tồn tại của thư viện đang dần mất đi.
Tăng số lượt cho mượn là bài toán lớn nhất của thư viện trong thời gian tới.
Cái nằm ở trung tâm của thư viện không phải bản thân cuốn sách mà là chức năng nối con người với thông tin.
Thư viện từ nay về sau vẫn phải đặt vai trò ban đầu là lưu giữ tài liệu lên hàng đầu.
Đáp ánC. Cái nằm ở trung tâm của thư viện không phải bản thân cuốn sách mà là chức năng nối con người với thông tin.
Hai câu cuối, mở đầu bằng "nhìn như vậy thì", chính là phần tổng kết và luận điểm nằm ở đó. Bài không hề nói phải đặt việc lưu giữ lên hàng đầu, trái lại nó đi theo quá trình vai trò được mở rộng ra. Về việc cho mượn, bài viết rằng đó "chỉ là một trong những hình thức" chứ không nêu như một bài toán. Bài cũng không có chỗ nào nói ý nghĩa tồn tại đang mất đi, ngược lại còn nói những mặt mới đang đậm nét hơn.
Câu 6 | Bài đọc kính ngữ: nội dung
【Bài đọc】Kính ngữ thường được giải thích là thứ ngôn từ dùng để đặt đối phương lên vị trí cao hơn. Nhưng nhìn vào hội thoại thực tế, ta nhận ra thứ mà kính ngữ đảm nhiệm là việc điều chỉnh khoảng cách chứ không phải trên dưới. Chọn lối nói lịch sự với người mới gặp lần đầu không hẳn vì người đó là bậc trên. Chỉ là vì chưa rõ chừng mực giữa hai bên nên tạm bắt đầu câu chuyện từ một vị trí xa. Khi qua lại lâu dần thì cách nói cũng vơi bớt trang trọng, nhưng điều này không phải vì ta đã bắt đầu xem nhẹ đối phương. Đó là vì hai bên đã trao cho nhau tín hiệu rằng nói chuyện ở khoảng cách gần cũng không sao. Ngược lại, nếu bỗng dưng dùng lời lẽ trang trọng với người thân thiết thì đối phương sẽ dè chừng. Bởi nó được tiếp nhận như tín hiệu muốn nới rộng khoảng cách. Nghĩ như vậy thì việc dùng hay không dùng kính ngữ không hẳn là chuyện đúng sai, mà là lựa chọn xem đặt bao nhiêu khoảng hở giữa mình với đối phương. Khi học kính ngữ, thứ cần thiết không chỉ là thuộc lòng bảng liệt kê các hình thức. Nó còn là bài tập đọc ra rằng lúc này mình đang ở khoảng cách nào với người đối diện. 【Câu hỏi】Phương án nào khớp với nội dung bài đọc?
Dùng lời lẽ trang trọng với người thân thiết thì đối phương thấy khoảng cách được kéo gần lại.
Tác giả cho rằng học kính ngữ chỉ cần thuộc lòng bảng liệt kê các hình thức là đủ.
Chọn lối nói lịch sự với người mới gặp lần đầu là vì người đó là bậc trên.
Qua lại lâu dần mà cách nói vơi bớt trang trọng là vì hai bên đã trao nhau tín hiệu rằng nói chuyện ở khoảng cách gần cũng không sao.
Đáp ánD. Qua lại lâu dần mà cách nói vơi bớt trang trọng là vì hai bên đã trao nhau tín hiệu rằng nói chuyện ở khoảng cách gần cũng không sao.
Đáp án đúng khớp với câu "đó là vì hai bên đã trao cho nhau tín hiệu rằng nói chuyện ở khoảng cách gần cũng không sao". Ý "vì người đó là bậc trên" chỏi với câu trong bài rằng điều đó "không hẳn" là như vậy. Ý "thấy khoảng cách được kéo gần lại" thì ngược với các câu "đối phương sẽ dè chừng" và "được tiếp nhận như tín hiệu muốn nới rộng khoảng cách". Ý "thuộc bảng liệt kê là đủ" chỏi với câu "không chỉ là thuộc lòng bảng liệt kê các hình thức".
Câu 7 | Bài đọc kính ngữ: từ chỉ định
【Bài đọc】Kính ngữ thường được giải thích là thứ ngôn từ dùng để đặt đối phương lên vị trí cao hơn. Nhưng nhìn vào hội thoại thực tế, ta nhận ra thứ mà kính ngữ đảm nhiệm là việc điều chỉnh khoảng cách chứ không phải trên dưới. Chọn lối nói lịch sự với người mới gặp lần đầu không hẳn vì người đó là bậc trên. Chỉ là vì chưa rõ chừng mực giữa hai bên nên tạm bắt đầu câu chuyện từ một vị trí xa. Khi qua lại lâu dần thì cách nói cũng vơi bớt trang trọng, nhưng điều này không phải vì ta đã bắt đầu xem nhẹ đối phương. Đó là vì hai bên đã trao cho nhau tín hiệu rằng nói chuyện ở khoảng cách gần cũng không sao. Ngược lại, nếu bỗng dưng dùng lời lẽ trang trọng với người thân thiết thì đối phương sẽ dè chừng. Bởi nó được tiếp nhận như tín hiệu muốn nới rộng khoảng cách. Nghĩ như vậy thì việc dùng hay không dùng kính ngữ không hẳn là chuyện đúng sai, mà là lựa chọn xem đặt bao nhiêu khoảng hở giữa mình với đối phương. Khi học kính ngữ, thứ cần thiết không chỉ là thuộc lòng bảng liệt kê các hình thức. Nó còn là bài tập đọc ra rằng lúc này mình đang ở khoảng cách nào với người đối diện. 【Câu hỏi】Trong câu được gạch chân "điều này không phải vì ta đã bắt đầu xem nhẹ đối phương", cụm "điều này" chỉ nội dung nào là thích hợp nhất?
Việc bỗng dưng dùng lời lẽ trang trọng với người thân thiết
Việc chọn lối nói lịch sự với người mới gặp lần đầu
Việc cách nói vơi bớt trang trọng dần theo mức độ qua lại lâu ngày
Việc luyện tập đọc ra khoảng cách giữa mình với đối phương
Đáp ánC. Việc cách nói vơi bớt trang trọng dần theo mức độ qua lại lâu ngày
Cụm "điều này" trỏ về nửa đầu của chính câu đó, tức là ý qua lại lâu dần thì cách nói vơi bớt trang trọng. Đặt nội dung ấy vào chỗ của từ chỉ định rồi đọc lại thì câu nối liền mạch một cách tự nhiên. Việc nói lịch sự với người mới gặp là một chủ đề khác, không liên quan tới chuyện xem nhẹ hay không. Ví dụ về việc bỗng dưng trang trọng với người thân thiết xuất hiện ở phía sau câu này nên không thể là nội dung mà "điều này" trỏ về phía trước. Việc luyện tập đọc khoảng cách là chuyện của câu cuối, cũng nằm phía sau.
Câu 8 | Lý do đối phương dè chừng
【Bài đọc】Kính ngữ thường được giải thích là thứ ngôn từ dùng để đặt đối phương lên vị trí cao hơn. Nhưng nhìn vào hội thoại thực tế, ta nhận ra thứ mà kính ngữ đảm nhiệm là việc điều chỉnh khoảng cách chứ không phải trên dưới. Chọn lối nói lịch sự với người mới gặp lần đầu không hẳn vì người đó là bậc trên. Chỉ là vì chưa rõ chừng mực giữa hai bên nên tạm bắt đầu câu chuyện từ một vị trí xa. Khi qua lại lâu dần thì cách nói cũng vơi bớt trang trọng, nhưng điều này không phải vì ta đã bắt đầu xem nhẹ đối phương. Đó là vì hai bên đã trao cho nhau tín hiệu rằng nói chuyện ở khoảng cách gần cũng không sao. Ngược lại, nếu bỗng dưng dùng lời lẽ trang trọng với người thân thiết thì đối phương sẽ dè chừng. Bởi nó được tiếp nhận như tín hiệu muốn nới rộng khoảng cách. Nghĩ như vậy thì việc dùng hay không dùng kính ngữ không hẳn là chuyện đúng sai, mà là lựa chọn xem đặt bao nhiêu khoảng hở giữa mình với đối phương. Khi học kính ngữ, thứ cần thiết không chỉ là thuộc lòng bảng liệt kê các hình thức. Nó còn là bài tập đọc ra rằng lúc này mình đang ở khoảng cách nào với người đối diện. 【Câu hỏi】Vì sao khi bỗng dưng dùng lời lẽ trang trọng với người thân thiết thì đối phương lại dè chừng?
Vì lối nói trang trọng bị coi là dùng sai
Vì làm vậy hóa ra đối xử với người kia như bậc trên
Vì nội dung câu chuyện trở nên khó hiểu hơn
Vì nó được tiếp nhận như tín hiệu muốn nới rộng khoảng cách
Đáp ánD. Vì nó được tiếp nhận như tín hiệu muốn nới rộng khoảng cách
Căn cứ nằm ngay ở câu liền sau: bởi nó được tiếp nhận như tín hiệu muốn nới rộng khoảng cách. Với đề hỏi lý do thì cách nhanh nhất là tìm câu nêu căn cứ đứng ngay sát đó. Bài không hề nói là bị coi là dùng sai. Cách giải thích "đối xử như bậc trên" chính là lối nhìn theo trên dưới mà bài đã bác đi ngay từ đầu, và không được nêu như lý do của việc dè chừng. Bài cũng không có chỗ nào nói nội dung trở nên khó hiểu.
Câu 9 | Bài đọc kính ngữ: luận điểm
【Bài đọc】Kính ngữ thường được giải thích là thứ ngôn từ dùng để đặt đối phương lên vị trí cao hơn. Nhưng nhìn vào hội thoại thực tế, ta nhận ra thứ mà kính ngữ đảm nhiệm là việc điều chỉnh khoảng cách chứ không phải trên dưới. Chọn lối nói lịch sự với người mới gặp lần đầu không hẳn vì người đó là bậc trên. Chỉ là vì chưa rõ chừng mực giữa hai bên nên tạm bắt đầu câu chuyện từ một vị trí xa. Khi qua lại lâu dần thì cách nói cũng vơi bớt trang trọng, nhưng điều này không phải vì ta đã bắt đầu xem nhẹ đối phương. Đó là vì hai bên đã trao cho nhau tín hiệu rằng nói chuyện ở khoảng cách gần cũng không sao. Ngược lại, nếu bỗng dưng dùng lời lẽ trang trọng với người thân thiết thì đối phương sẽ dè chừng. Bởi nó được tiếp nhận như tín hiệu muốn nới rộng khoảng cách. Nghĩ như vậy thì việc dùng hay không dùng kính ngữ không hẳn là chuyện đúng sai, mà là lựa chọn xem đặt bao nhiêu khoảng hở giữa mình với đối phương. Khi học kính ngữ, thứ cần thiết không chỉ là thuộc lòng bảng liệt kê các hình thức. Nó còn là bài tập đọc ra rằng lúc này mình đang ở khoảng cách nào với người đối diện. 【Câu hỏi】Phương án nào là luận điểm của tác giả, thích hợp nhất?
Hội thoại vơi dần sự trang trọng là biểu hiện của lòng xem nhẹ đối phương.
Kính ngữ được dùng để điều chỉnh khoảng cách với đối phương, chứ không hẳn để thể hiện trên dưới.
Kính ngữ chỉ cần dùng với bậc trên, còn với người thân thiết thì không cần dùng.
Nhớ thật chính xác các hình thức của kính ngữ là cách duy nhất để giữ cho hội thoại đúng chuẩn.
Đáp ánB. Kính ngữ được dùng để điều chỉnh khoảng cách với đối phương, chứ không hẳn để thể hiện trên dưới.
Câu đầu nêu cách hiểu phổ biến, còn ý của tác giả được đặt sau từ nối nghịch chiều "nhưng" ở câu thứ hai. Phần cuối bài, nói rằng đó là "lựa chọn xem đặt bao nhiêu khoảng hở giữa mình với đối phương", cũng là một cách nói lại của chính ý đó. Bài không nói chỉ cần dùng với bậc trên. Về việc nhớ các hình thức, bài viết rằng "không chỉ có vậy" chứ không coi là cách duy nhất. Về việc cách nói vơi dần trang trọng, bài phủ định rõ ràng rằng đó không phải vì xem nhẹ đối phương.
Câu 10 | Bài đọc hạt giống: nội dung
【Bài đọc】Thực vật không tự bước đi được, nhưng chúng có không ít cách để đưa thế hệ sau tới nơi cách xa cây mẹ. Cách được biết đến nhiều nhất là mượn sức gió. Những hạt mang lông nhẹ như bông thì chỉ cần chút gió cũng được đưa đi rất xa. Ở thực vật vùng nước có những hạt mang lớp vỏ nổi được trên nước, cứ theo dòng chảy mà đi. Ngoài ra cũng nhiều loài lợi dụng động vật. Ví dụ như loài làm quả cho ngọt để được ăn rồi nhờ động vật thả hạt không tiêu hóa được xuống một nơi khác, hay những hạt có gai móc vào lông thú mà được mang đi. Điểm chung của mọi cách ấy là chúng đều tránh việc rơi ngay cạnh cây mẹ. Ngay dưới gốc cây mẹ thì thiếu nắng, lại dễ sinh ra tranh giành nước và dưỡng chất. Nếu dồn cả vào một chỗ thì khi nơi đó gặp thiên tai, tất cả cũng mất sạch cùng một lúc. Với một sinh vật không di chuyển được, việc gửi hạt đi xa là một trong số ít cách để nới rộng khoảng sống sót của mình. 【Câu hỏi】Phương án nào khớp với nội dung bài đọc?
Ngay dưới gốc cây mẹ có nhiều nắng nên hạt dễ tụ lại ở đó.
Hạt mang lớp vỏ nổi được trên nước chỉ có ở những loài lợi dụng động vật.
Có trường hợp hạt trong quả bị động vật ăn vào rồi không tiêu hóa được và được thả xuống ở một nơi khác.
Hạt được gió mang đi thì phải có gió mạnh thổi mới di chuyển được.
Đáp ánC. Có trường hợp hạt trong quả bị động vật ăn vào rồi không tiêu hóa được và được thả xuống ở một nơi khác.
Đáp án đúng khớp với đoạn nói loài làm quả cho ngọt để được ăn rồi nhờ động vật thả hạt không tiêu hóa được xuống một nơi khác. Ý "phải có gió mạnh mới di chuyển được" chỏi với câu "chỉ cần chút gió cũng được đưa đi rất xa". Lớp vỏ nổi được trên nước được bài nêu như ví dụ của thực vật vùng nước, bài không hề viết rằng đó là thứ của những loài lợi dụng động vật. Ý "nhiều nắng" thì ngược hẳn với câu "ngay dưới gốc cây mẹ thì thiếu nắng".
Câu 11 | Bài đọc hạt giống: chỗ trống
【Bài đọc】Thực vật không tự bước đi được, nhưng chúng có không ít cách để đưa thế hệ sau tới nơi cách xa cây mẹ. Cách được biết đến nhiều nhất là mượn sức gió. Những hạt mang lông nhẹ như bông thì chỉ cần chút gió cũng được đưa đi rất xa. Ở thực vật vùng nước có những hạt mang lớp vỏ nổi được trên nước, cứ theo dòng chảy mà đi. (chỗ trống), cũng nhiều loài lợi dụng động vật. Ví dụ như loài làm quả cho ngọt để được ăn rồi nhờ động vật thả hạt không tiêu hóa được xuống một nơi khác, hay những hạt có gai móc vào lông thú mà được mang đi. Điểm chung của mọi cách ấy là chúng đều tránh việc rơi ngay cạnh cây mẹ. Ngay dưới gốc cây mẹ thì thiếu nắng, lại dễ sinh ra tranh giành nước và dưỡng chất. Nếu dồn cả vào một chỗ thì khi nơi đó gặp thiên tai, tất cả cũng mất sạch cùng một lúc. Với một sinh vật không di chuyển được, việc gửi hạt đi xa là một trong số ít cách để nới rộng khoảng sống sót của mình. 【Câu hỏi】Từ nào điền vào chỗ trống là thích hợp nhất?
tức là (つまり, tsumari)
ngoài ra (また, mata)
thế nhưng (しかし, shikashi)
bởi vì (なぜなら, nazenara)
Đáp ánB. ngoài ra (また, mata)
Trước chỗ trống là cách phát tán nhờ gió và nhờ nước, sau chỗ trống là cách phát tán nhờ động vật; cả hai cùng nằm trong một loạt "cách đưa hạt đi xa cây mẹ", tức là song song với nhau. Vậy từ bổ sung "ngoài ra" là đúng. Dùng "thế nhưng" thì hai vế phải chỏi nhau, mà chúng không hề đối lập. Nếu là "tức là" thì vế sau phải là lời nói lại của vế trước; nếu là "bởi vì" thì trong nguyên văn câu phải kết bằng からである.
Câu 12 | Lý do phát tán hạt
【Bài đọc】Thực vật không tự bước đi được, nhưng chúng có không ít cách để đưa thế hệ sau tới nơi cách xa cây mẹ. Cách được biết đến nhiều nhất là mượn sức gió. Những hạt mang lông nhẹ như bông thì chỉ cần chút gió cũng được đưa đi rất xa. Ở thực vật vùng nước có những hạt mang lớp vỏ nổi được trên nước, cứ theo dòng chảy mà đi. Ngoài ra cũng nhiều loài lợi dụng động vật. Ví dụ như loài làm quả cho ngọt để được ăn rồi nhờ động vật thả hạt không tiêu hóa được xuống một nơi khác, hay những hạt có gai móc vào lông thú mà được mang đi. Điểm chung của mọi cách ấy là chúng đều tránh việc rơi ngay cạnh cây mẹ. Ngay dưới gốc cây mẹ thì thiếu nắng, lại dễ sinh ra tranh giành nước và dưỡng chất. Nếu dồn cả vào một chỗ thì khi nơi đó gặp thiên tai, tất cả cũng mất sạch cùng một lúc. Với một sinh vật không di chuyển được, việc gửi hạt đi xa là một trong số ít cách để nới rộng khoảng sống sót của mình. 【Câu hỏi】Theo bài đọc, vì sao thực vật lại tránh để hạt rơi ngay cạnh cây mẹ?
Vì gió và dòng nước ở cạnh cây mẹ trở nên yếu đi
Vì ngay dưới gốc cây mẹ thì thiếu nắng, lại dễ sinh ra tranh giành nước và dưỡng chất
Vì hạt sẽ bị động vật ăn mất ngay ở cạnh cây mẹ
Vì ở cạnh cây mẹ thì cây cùng loài sẽ không mọc lên được
Đáp ánB. Vì ngay dưới gốc cây mẹ thì thiếu nắng, lại dễ sinh ra tranh giành nước và dưỡng chất
Ngay sau câu "đều tránh việc rơi ngay cạnh cây mẹ", bài nêu hai lý do: chuyện thiếu nắng cùng tranh giành dưỡng chất, và nguy cơ mất sạch cùng lúc khi gặp thiên tai. Đáp án đúng là lý do thứ nhất. Việc bị động vật ăn thì bài viết theo nghĩa tích cực, như một cơ chế để được mang đi, chứ không phải điều cần tránh. Bài không hề có câu nào nói gió hay dòng chảy yếu đi, cũng không có câu nào nói cây cùng loài sẽ không mọc lên được.
Câu 13 | Bài đọc hạt giống: đại ý
【Bài đọc】Thực vật không tự bước đi được, nhưng chúng có không ít cách để đưa thế hệ sau tới nơi cách xa cây mẹ. Cách được biết đến nhiều nhất là mượn sức gió. Những hạt mang lông nhẹ như bông thì chỉ cần chút gió cũng được đưa đi rất xa. Ở thực vật vùng nước có những hạt mang lớp vỏ nổi được trên nước, cứ theo dòng chảy mà đi. Ngoài ra cũng nhiều loài lợi dụng động vật. Ví dụ như loài làm quả cho ngọt để được ăn rồi nhờ động vật thả hạt không tiêu hóa được xuống một nơi khác, hay những hạt có gai móc vào lông thú mà được mang đi. Điểm chung của mọi cách ấy là chúng đều tránh việc rơi ngay cạnh cây mẹ. Ngay dưới gốc cây mẹ thì thiếu nắng, lại dễ sinh ra tranh giành nước và dưỡng chất. Nếu dồn cả vào một chỗ thì khi nơi đó gặp thiên tai, tất cả cũng mất sạch cùng một lúc. Với một sinh vật không di chuyển được, việc gửi hạt đi xa là một trong số ít cách để nới rộng khoảng sống sót của mình. 【Câu hỏi】Đại ý của bài văn này là gì, phương án nào thích hợp nhất?
Thực vật chỉ có thể đưa hạt đi xa bằng cách nhờ động vật mang đi.
Những cơ chế đưa hạt đi xa là phương tiện để loài thực vật không di chuyển được nới rộng khoảng sống sót của mình.
Trong các cách phát tán hạt của thực vật, cách mượn sức gió là hiệu quả nhất.
Việc hạt tụ lại cùng một chỗ có ích như một sự phòng bị trước thiên tai.
Đáp ánB. Những cơ chế đưa hạt đi xa là phương tiện để loài thực vật không di chuyển được nới rộng khoảng sống sót của mình.
Câu cuối gói lại toàn bài, còn ba ví dụ gió, nước và động vật đều là chất liệu chống đỡ cho kết luận ấy. Bài không có chỗ nào so sánh xem cách nào hiệu quả hơn; gió chỉ được nêu như ví dụ "được biết đến nhiều nhất". Ngoài động vật, bài còn nói tới cách nhờ gió và nhờ nước nên chữ "chỉ có thể" là nói quá. Về việc tụ lại cùng một chỗ, bài viết rằng có nguy cơ mất sạch cùng lúc, ngược với ý phòng bị.
Câu 14 | Bài đọc hạn chót: nội dung
【Bài đọc】Đứng trước một công việc lớn, có lúc ta khựng lại không nhúc nhích được. Vì việc phải làm quá nhiều nên không nhìn ra nên bắt đầu từ đâu. Cái có tác dụng trong những lúc như vậy là cách chia hạn chót ra thành nhiều mốc thay vì chỉ để một mốc duy nhất. Nếu chỉ ấn định ngày nộp cuối cùng thì từ giờ đến ngày đó lúc nào cũng có vẻ như vẫn còn dư dả. Khối lượng công việc thật ra chẳng đổi, thế mà tình trạng không có lấy một lý do nào để bắt tay vào hôm nay cứ kéo dài mãi. Vì vậy hãy chia toàn bộ thành ba hay bốn chặng rồi gắn ngày cho từng chặng. Mỗi chặng có một hạn chót nhỏ nên phần phải làm trong hôm nay hiện ra rõ ràng. Một cái lợi nữa là ta sớm nhận ra mình đang chậm. Nếu ngay ở chặng đầu đã tốn thời gian hơn dự tính thì ngay tại thời điểm đó ta còn dựng lại được kế hoạch. Nếu tới ngày cuối mới nhận ra thì gần như chẳng còn nước cờ nào. Nên nghĩ rằng chia nhỏ hạn chót không phải để tự thúc ép mình, mà là để tạo ra một cái thước đo mức độ tiến triển. 【Câu hỏi】Phương án nào khớp với nội dung bài đọc?
Chia nhỏ hạn chót thì ngay ở chặng đầu đã nhận ra mình chậm và dựng lại được kế hoạch.
Ta khựng lại trước công việc lớn là vì ngày nộp cuối đã gần kề và thời gian còn lại không đủ.
Nếu chỉ ấn định ngày nộp cuối cùng thì khối lượng việc phải làm sẽ vơi dần đi.
Chia nhỏ hạn chót là để tự thúc ép mình nhằm làm việc nhanh hơn.
Đáp ánA. Chia nhỏ hạn chót thì ngay ở chặng đầu đã nhận ra mình chậm và dựng lại được kế hoạch.
Đáp án đúng khớp với câu "nếu ngay ở chặng đầu đã tốn thời gian hơn dự tính thì ngay tại thời điểm đó ta còn dựng lại được kế hoạch". Về nguyên nhân khựng lại, bài nói là vì "không nhìn ra nên bắt đầu từ đâu" chứ không phải vì khối lượng. Ý "để tự thúc ép" chỏi thẳng với câu cuối "không phải để tự thúc ép mình". Về khối lượng việc, bài viết "thật ra chẳng đổi", trái với ý vơi dần. Còn phương án nói thời gian còn lại không đủ thì chỏi với câu "lúc nào cũng có vẻ như vẫn còn dư dả".
Câu 15 | Bài đọc hạn chót: từ chỉ định
【Bài đọc】Đứng trước một công việc lớn, có lúc ta khựng lại không nhúc nhích được. Vì việc phải làm quá nhiều nên không nhìn ra nên bắt đầu từ đâu. Cái có tác dụng trong những lúc như vậy là cách chia hạn chót ra thành nhiều mốc thay vì chỉ để một mốc duy nhất. Nếu chỉ ấn định ngày nộp cuối cùng thì từ giờ đến ngày đó lúc nào cũng có vẻ như vẫn còn dư dả. Khối lượng công việc thật ra chẳng đổi, thế mà tình trạng không có lấy một lý do nào để bắt tay vào hôm nay cứ kéo dài mãi. Vì vậy hãy chia toàn bộ thành ba hay bốn chặng rồi gắn ngày cho từng chặng. Mỗi chặng có một hạn chót nhỏ nên phần phải làm trong hôm nay hiện ra rõ ràng. Một cái lợi nữa là ta sớm nhận ra mình đang chậm. Nếu ngay ở chặng đầu đã tốn thời gian hơn dự tính thì ngay tại thời điểm đó ta còn dựng lại được kế hoạch. Nếu tới ngày cuối mới nhận ra thì gần như chẳng còn nước cờ nào. Nên nghĩ rằng chia nhỏ hạn chót không phải để tự thúc ép mình, mà là để tạo ra một cái thước đo mức độ tiến triển. 【Câu hỏi】Trong câu được gạch chân "cái có tác dụng trong những lúc như vậy", cụm "những lúc như vậy" chỉ nội dung nào là thích hợp nhất?
Lúc việc phải làm quá nhiều, không nhìn ra nên bắt đầu từ đâu nên khựng lại không nhúc nhích được
Lúc ngày nộp đã gần kề và thời gian còn lại không đủ
Lúc đã ấn định xong các hạn chót nhỏ cho từng chặng
Lúc tốn thời gian hơn dự tính nên phát sinh nhu cầu dựng lại kế hoạch
Đáp ánA. Lúc việc phải làm quá nhiều, không nhìn ra nên bắt đầu từ đâu nên khựng lại không nhúc nhích được
Hai câu đứng trước từ chỉ định là "có lúc ta khựng lại không nhúc nhích được" và "vì việc phải làm quá nhiều nên không nhìn ra nên bắt đầu từ đâu"; gộp hai câu ấy lại chính là "những lúc như vậy". Cảnh thời gian còn lại không đủ thì bài không hề nói tới. Việc dựng lại kế hoạch và việc ấn định các chặng đều là nội dung xuất hiện sau từ chỉ định nên không thể là thứ mà một từ chỉ định trỏ về phía trước.
Câu 16 | Lý do không bắt tay vào việc
【Bài đọc】Đứng trước một công việc lớn, có lúc ta khựng lại không nhúc nhích được. Vì việc phải làm quá nhiều nên không nhìn ra nên bắt đầu từ đâu. Cái có tác dụng trong những lúc như vậy là cách chia hạn chót ra thành nhiều mốc thay vì chỉ để một mốc duy nhất. Nếu chỉ ấn định ngày nộp cuối cùng thì từ giờ đến ngày đó lúc nào cũng có vẻ như vẫn còn dư dả. Khối lượng công việc thật ra chẳng đổi, thế mà tình trạng không có lấy một lý do nào để bắt tay vào hôm nay cứ kéo dài mãi. Vì vậy hãy chia toàn bộ thành ba hay bốn chặng rồi gắn ngày cho từng chặng. Mỗi chặng có một hạn chót nhỏ nên phần phải làm trong hôm nay hiện ra rõ ràng. Một cái lợi nữa là ta sớm nhận ra mình đang chậm. Nếu ngay ở chặng đầu đã tốn thời gian hơn dự tính thì ngay tại thời điểm đó ta còn dựng lại được kế hoạch. Nếu tới ngày cuối mới nhận ra thì gần như chẳng còn nước cờ nào. Nên nghĩ rằng chia nhỏ hạn chót không phải để tự thúc ép mình, mà là để tạo ra một cái thước đo mức độ tiến triển. 【Câu hỏi】Vì sao khi chỉ ấn định ngày nộp cuối cùng thì ta mãi không bắt tay vào việc được?
Vì khối lượng việc phải làm trước ngày nộp cứ tăng lên theo từng ngày
Vì cơ hội phải dựng lại kế hoạch giữa chừng nhiều lên khiến phải làm lại nhiều
Vì các chặng bị chia quá vụn nên ta phân vân không biết bắt tay vào cái nào
Vì từ giờ đến ngày đó lúc nào cũng có vẻ vẫn còn dư dả, và tình trạng không có lý do nào để bắt tay vào hôm nay cứ kéo dài
Đáp ánD. Vì từ giờ đến ngày đó lúc nào cũng có vẻ vẫn còn dư dả, và tình trạng không có lý do nào để bắt tay vào hôm nay cứ kéo dài
Căn cứ nằm ở câu thứ tư và thứ năm: "lúc nào cũng có vẻ như vẫn còn dư dả" và "tình trạng không có lấy một lý do nào để bắt tay vào hôm nay cứ kéo dài mãi". Khối lượng việc không tăng lên, bài viết rõ "thật ra chẳng đổi". Việc dựng lại kế hoạch được nêu như cái lợi khi chia nhỏ hạn chót chứ không phải lý do không bắt tay vào được. Bài cũng không có câu nào nói các chặng bị chia quá vụn.
Câu 17 | Bài đọc hạn chót: luận điểm
【Bài đọc】Đứng trước một công việc lớn, có lúc ta khựng lại không nhúc nhích được. Vì việc phải làm quá nhiều nên không nhìn ra nên bắt đầu từ đâu. Cái có tác dụng trong những lúc như vậy là cách chia hạn chót ra thành nhiều mốc thay vì chỉ để một mốc duy nhất. Nếu chỉ ấn định ngày nộp cuối cùng thì từ giờ đến ngày đó lúc nào cũng có vẻ như vẫn còn dư dả. Khối lượng công việc thật ra chẳng đổi, thế mà tình trạng không có lấy một lý do nào để bắt tay vào hôm nay cứ kéo dài mãi. Vì vậy hãy chia toàn bộ thành ba hay bốn chặng rồi gắn ngày cho từng chặng. Mỗi chặng có một hạn chót nhỏ nên phần phải làm trong hôm nay hiện ra rõ ràng. Một cái lợi nữa là ta sớm nhận ra mình đang chậm. Nếu ngay ở chặng đầu đã tốn thời gian hơn dự tính thì ngay tại thời điểm đó ta còn dựng lại được kế hoạch. Nếu tới ngày cuối mới nhận ra thì gần như chẳng còn nước cờ nào. Nên nghĩ rằng chia nhỏ hạn chót không phải để tự thúc ép mình, mà là để tạo ra một cái thước đo mức độ tiến triển. 【Câu hỏi】Phương án nào là luận điểm của tác giả, thích hợp nhất?
Chia nhỏ hạn chót không phải để tự thúc ép mình, mà là để tạo ra cái thước đo mức độ tiến triển.
Với công việc lớn thì nên giảm bớt khối lượng tổng thể trước rồi mới bắt tay vào.
Càng tăng số hạn chót để tự thúc ép mình thì công việc càng chạy nhanh.
Nên gom hạn chót lại thành một mốc rồi dồn sức vào giai đoạn cuối.
Đáp ánA. Chia nhỏ hạn chót không phải để tự thúc ép mình, mà là để tạo ra cái thước đo mức độ tiến triển.
Câu cuối là phần tổng kết toàn bài và luận điểm nằm ở đó. Bài khuyên chia nhỏ hạn chót nên phương án gom lại thành một mốc thì ngược lại. Chuyện giảm bớt khối lượng công việc không hề xuất hiện trong bài. Ý càng thúc ép càng nhanh thì bị chính câu cuối phủ định rõ ràng.
Câu 18 | Bài đọc địa danh: nội dung
【Bài đọc】Địa danh còn giữ lại cách người sống ở đó nhìn nhận mảnh đất của mình. Những địa danh có chữ liên quan đến nước không hiếm khi là nơi ngày trước từng có sông chảy qua, hoặc là nơi nước hay đọng lại. Những địa danh có chữ thung lũng hay chữ dốc thì có khi cho thấy địa hình vốn nhấp nhô, dù bây giờ nhìn có vẻ bằng phẳng. Đó là vì hình dạng của đất có bị công trình làm đổi đi thì riêng cái tên vẫn thường được truyền lại y nguyên. Có điều, khi đọc địa danh như một bản ghi về địa hình thì cũng cần cẩn thận. Có những địa danh đã bị đổi thành chữ mang điềm lành, và những địa danh được đặt cho khu quy hoạch mới, chúng có khi chẳng dính dáng gì đến gốc gác của mảnh đất. Đọc cả những địa danh loại đó như bản ghi về địa hình thì sẽ phán đoán sai. Vì thế, chỉ lấy mỗi địa danh làm căn cứ mà kết luận về tính chất của đất là chuyện nguy hiểm. Phải đối chiếu với bản đồ và thư tịch cũ thì mới thành manh mối. Dù vậy, việc cái tên là cánh cửa dẫn vào lai lịch của mảnh đất thì vẫn không thay đổi. Thử tra một lần cái tên của con đường mình đi qua mỗi ngày, phong cảnh quen thuộc sẽ hiện ra khác đi. 【Câu hỏi】Phương án nào khớp với nội dung bài đọc?
Tác giả cho rằng chỉ lấy mỗi địa danh làm căn cứ để phán đoán tính chất của đất là được.
Địa danh đã bị đổi thành chữ mang điềm lành thì vẫn cho thấy đúng gốc gác của mảnh đất.
Địa danh có chữ thung lũng hay chữ dốc thì hiện nay chỉ được đặt cho những vùng đất nhấp nhô mạnh.
Hình dạng của đất có bị công trình làm đổi đi thì riêng cái tên vẫn thường được truyền lại y nguyên.
Đáp ánD. Hình dạng của đất có bị công trình làm đổi đi thì riêng cái tên vẫn thường được truyền lại y nguyên.
Đáp án đúng khớp với câu thứ tư của bài. Về địa danh có chữ thung lũng hay chữ dốc, bài viết "dù bây giờ nhìn có vẻ bằng phẳng", nên cách giới hạn rằng chỉ đặt cho vùng nhấp nhô là chỏi với bài. Địa danh đổi thành chữ mang điềm lành thì bài nói "có khi chẳng dính dáng gì đến gốc gác của mảnh đất", trái với ý cho thấy đúng. Bài viết rằng "chỉ lấy mỗi địa danh làm căn cứ mà kết luận là chuyện nguy hiểm", nên phương án cuối là ngược lại.
Câu 19 | Bài đọc địa danh: từ chỉ định
【Bài đọc】Địa danh còn giữ lại cách người sống ở đó nhìn nhận mảnh đất của mình. Những địa danh có chữ liên quan đến nước không hiếm khi là nơi ngày trước từng có sông chảy qua, hoặc là nơi nước hay đọng lại. Những địa danh có chữ thung lũng hay chữ dốc thì có khi cho thấy địa hình vốn nhấp nhô, dù bây giờ nhìn có vẻ bằng phẳng. Đó là vì hình dạng của đất có bị công trình làm đổi đi thì riêng cái tên vẫn thường được truyền lại y nguyên. Có điều, khi đọc địa danh như một bản ghi về địa hình thì cũng cần cẩn thận. Có những địa danh đã bị đổi thành chữ mang điềm lành, và những địa danh được đặt cho khu quy hoạch mới, chúng có khi chẳng dính dáng gì đến gốc gác của mảnh đất. Đọc cả những địa danh loại đó như bản ghi về địa hình thì sẽ phán đoán sai. Vì thế, chỉ lấy mỗi địa danh làm căn cứ mà kết luận về tính chất của đất là chuyện nguy hiểm. Phải đối chiếu với bản đồ và thư tịch cũ thì mới thành manh mối. Dù vậy, việc cái tên là cánh cửa dẫn vào lai lịch của mảnh đất thì vẫn không thay đổi. Thử tra một lần cái tên của con đường mình đi qua mỗi ngày, phong cảnh quen thuộc sẽ hiện ra khác đi. 【Câu hỏi】Trong câu được gạch chân "đọc cả những địa danh loại đó như bản ghi về địa hình thì sẽ phán đoán sai", cụm "những địa danh loại đó" chỉ thứ nào là thích hợp nhất?
Địa danh có chữ thung lũng hay chữ dốc, truyền lại sự nhấp nhô của địa hình vốn có
Địa danh có thể kiểm chứng được bằng cách đối chiếu với bản đồ và thư tịch cũ
Địa danh đã bị đổi thành chữ mang điềm lành và địa danh được đặt cho khu quy hoạch mới
Địa danh có chữ liên quan đến nước, cho thấy nơi ngày trước từng có sông chảy qua
Đáp ánC. Địa danh đã bị đổi thành chữ mang điềm lành và địa danh được đặt cho khu quy hoạch mới
Câu đứng ngay trước từ chỉ định nói rằng những địa danh bị đổi thành chữ mang điềm lành và những địa danh đặt cho khu quy hoạch mới có khi chẳng dính dáng gì đến gốc gác của mảnh đất, và từ chỉ định nhận lại đúng câu đó. Địa danh có chữ về nước hay chữ thung lũng, dốc thì nửa đầu bài nêu như ví dụ đọc được về địa hình, chúng không phải thứ gây phán đoán sai. Bản đồ và thư tịch cũ thì xuất hiện phía sau từ chỉ định, với vai trò là tài liệu để đối chiếu.
Câu 20 | Bài đọc địa danh: chỗ trống
【Bài đọc】Địa danh còn giữ lại cách người sống ở đó nhìn nhận mảnh đất của mình. Những địa danh có chữ liên quan đến nước không hiếm khi là nơi ngày trước từng có sông chảy qua, hoặc là nơi nước hay đọng lại. Những địa danh có chữ thung lũng hay chữ dốc thì có khi cho thấy địa hình vốn nhấp nhô, dù bây giờ nhìn có vẻ bằng phẳng. Đó là vì hình dạng của đất có bị công trình làm đổi đi thì riêng cái tên vẫn thường được truyền lại y nguyên. (chỗ trống), khi đọc địa danh như một bản ghi về địa hình thì cũng cần cẩn thận. Có những địa danh đã bị đổi thành chữ mang điềm lành, và những địa danh được đặt cho khu quy hoạch mới, chúng có khi chẳng dính dáng gì đến gốc gác của mảnh đất. Đọc cả những địa danh loại đó như bản ghi về địa hình thì sẽ phán đoán sai. Vì thế, chỉ lấy mỗi địa danh làm căn cứ mà kết luận về tính chất của đất là chuyện nguy hiểm. Phải đối chiếu với bản đồ và thư tịch cũ thì mới thành manh mối. Dù vậy, việc cái tên là cánh cửa dẫn vào lai lịch của mảnh đất thì vẫn không thay đổi. Thử tra một lần cái tên của con đường mình đi qua mỗi ngày, phong cảnh quen thuộc sẽ hiện ra khác đi. 【Câu hỏi】Từ nào điền vào chỗ trống là thích hợp nhất?
ví dụ (たとえば, tatoeba)
vì vậy (そのため, sono tame)
có điều (もっとも, mottomo)
tức là (つまり, tsumari)
Đáp ánC. có điều (もっとも, mottomo)
Cho đến trước chỗ trống, bài vẫn nói mạch rằng địa danh đọc được như bản ghi về địa hình. Sau chỗ trống, bài đặt thêm điều kiện "cũng cần cẩn thận" đối với chính mạch đó, nên từ giới hạn "có điều" là đúng. Nếu là "tức là" thì vế sau phải là lời nói lại, mà nội dung không phải nói lại. Nếu là "ví dụ" thì vế sau phải là trường hợp cụ thể, mà một câu nhắc nhở thì không phải ví dụ. Dùng "vì vậy" thì hóa ra việc đọc được địa hình lại dẫn tới việc phải cẩn thận, không thành mạch.
Câu 21 | Lý do địa danh thành manh mối
【Bài đọc】Địa danh còn giữ lại cách người sống ở đó nhìn nhận mảnh đất của mình. Những địa danh có chữ liên quan đến nước không hiếm khi là nơi ngày trước từng có sông chảy qua, hoặc là nơi nước hay đọng lại. Những địa danh có chữ thung lũng hay chữ dốc thì có khi cho thấy địa hình vốn nhấp nhô, dù bây giờ nhìn có vẻ bằng phẳng. Đó là vì hình dạng của đất có bị công trình làm đổi đi thì riêng cái tên vẫn thường được truyền lại y nguyên. Có điều, khi đọc địa danh như một bản ghi về địa hình thì cũng cần cẩn thận. Có những địa danh đã bị đổi thành chữ mang điềm lành, và những địa danh được đặt cho khu quy hoạch mới, chúng có khi chẳng dính dáng gì đến gốc gác của mảnh đất. Đọc cả những địa danh loại đó như bản ghi về địa hình thì sẽ phán đoán sai. Vì thế, chỉ lấy mỗi địa danh làm căn cứ mà kết luận về tính chất của đất là chuyện nguy hiểm. Phải đối chiếu với bản đồ và thư tịch cũ thì mới thành manh mối. Dù vậy, việc cái tên là cánh cửa dẫn vào lai lịch của mảnh đất thì vẫn không thay đổi. Thử tra một lần cái tên của con đường mình đi qua mỗi ngày, phong cảnh quen thuộc sẽ hiện ra khác đi. 【Câu hỏi】Vì sao hình dạng của đất bị công trình làm đổi đi rồi mà địa danh vẫn có thể thành manh mối cho địa hình vốn có?
Vì khắp nơi đều có thói quen đổi sang chữ mang điềm lành
Vì có quy định buộc phải giữ lại địa danh cũ khi làm công trình
Vì đất nhấp nhô thì nhất định được đặt chữ thung lũng hoặc chữ dốc
Vì riêng cái tên vẫn thường được truyền lại y nguyên
Đáp ánD. Vì riêng cái tên vẫn thường được truyền lại y nguyên
Câu thứ tư nói thẳng lý do: riêng cái tên vẫn thường được truyền lại y nguyên. Bài không có chỗ nào nói có quy định buộc phải giữ địa danh. Chữ "nhất định" cũng không có trong bài, bài chỉ nói dè dặt rằng "có khi cho thấy". Còn việc đổi sang chữ mang điềm lành thì trái lại được nêu như nguyên nhân khiến không đọc ra địa hình nữa.
Câu 22 | Bài đọc địa danh: luận điểm
【Bài đọc】Địa danh còn giữ lại cách người sống ở đó nhìn nhận mảnh đất của mình. Những địa danh có chữ liên quan đến nước không hiếm khi là nơi ngày trước từng có sông chảy qua, hoặc là nơi nước hay đọng lại. Những địa danh có chữ thung lũng hay chữ dốc thì có khi cho thấy địa hình vốn nhấp nhô, dù bây giờ nhìn có vẻ bằng phẳng. Đó là vì hình dạng của đất có bị công trình làm đổi đi thì riêng cái tên vẫn thường được truyền lại y nguyên. Có điều, khi đọc địa danh như một bản ghi về địa hình thì cũng cần cẩn thận. Có những địa danh đã bị đổi thành chữ mang điềm lành, và những địa danh được đặt cho khu quy hoạch mới, chúng có khi chẳng dính dáng gì đến gốc gác của mảnh đất. Đọc cả những địa danh loại đó như bản ghi về địa hình thì sẽ phán đoán sai. Vì thế, chỉ lấy mỗi địa danh làm căn cứ mà kết luận về tính chất của đất là chuyện nguy hiểm. Phải đối chiếu với bản đồ và thư tịch cũ thì mới thành manh mối. Dù vậy, việc cái tên là cánh cửa dẫn vào lai lịch của mảnh đất thì vẫn không thay đổi. Thử tra một lần cái tên của con đường mình đi qua mỗi ngày, phong cảnh quen thuộc sẽ hiện ra khác đi. 【Câu hỏi】Phương án nào là luận điểm của tác giả, thích hợp nhất?
Địa danh là cánh cửa để biết lai lịch của mảnh đất, nhưng cần đối chiếu với bản đồ và thư tịch cũ để kiểm chứng.
Địa danh mới đặt thì chẳng có giá trị gì nên không cần mất công tra cứu.
Việc đọc mảnh đất qua địa danh nên để cho chuyên gia, người thường không cần bận tâm trong đời sống hằng ngày.
Địa danh là bản ghi chép lại chính xác gốc gác của mảnh đất nên cứ tin thẳng vào đó là được.
Đáp ánA. Địa danh là cánh cửa để biết lai lịch của mảnh đất, nhưng cần đối chiếu với bản đồ và thư tịch cũ để kiểm chứng.
Nửa đầu bài nói địa danh truyền lại địa hình, từ chỗ "có điều" trở đi bài nêu ngoại lệ, rồi đặt điều kiện "phải đối chiếu với bản đồ và thư tịch cũ thì mới thành manh mối", cuối cùng chốt lại "dù vậy, việc cái tên là cánh cửa dẫn vào lai lịch của mảnh đất thì vẫn không thay đổi". Phương án chứa được cả hai vế đó mới là luận điểm. Bài không nói cứ tin thẳng là được, trái lại còn ghi rõ là nguy hiểm. Bài cũng không nói địa danh mới vô giá trị hay phải để cho chuyên gia; câu cuối còn khuyên người đọc tự tra thử.
Câu 23 | Bài đọc lên men: nội dung
【Bài đọc】Lên men và ôi thiu đều là hoạt động vi sinh vật phân giải thức ăn. Thứ chia đôi hai hiện tượng ấy không phải bản thân chủng loại vi sinh vật, mà chỉ là cách nhìn xem kết quả của nó có ích cho con người hay không. Trong quá trình phân giải, các thành phần tạo nên vị chua và mùi thơm sinh ra; nếu vị ngon lên hoặc để được lâu hơn thì gọi là lên men, còn nếu không ăn được nữa thì gọi là ôi thiu. Sở dĩ để được lâu hơn là vì đám vi sinh vật sinh sôi trước đã chiếm hết chỗ và chất dinh dưỡng, khiến những vi sinh vật khác đến sau khó sinh sôi. Việc axit tiết ra làm môi trường xung quanh ngả sang tính axit cũng là điều kiện khó sống đối với phần lớn vi sinh vật. Tức là thực phẩm lên men không phải được giữ nhờ đuổi vi sinh vật đi, mà được giữ nhờ mời sẵn những vi sinh vật có lợi vào ở trước. Việc khắp nơi đều phát triển thực phẩm lên men vào thời chưa có tủ lạnh, có thể xem là vì người ta đã biết cơ chế này qua kinh nghiệm. 【Câu hỏi】Phương án nào khớp với nội dung bài đọc?
Vào thời chưa có tủ lạnh thì hầu như người ta không làm thực phẩm lên men.
Lên men và ôi thiu được phân định rạch ròi theo chủng loại vi sinh vật tham gia.
Thực phẩm lên men để được lâu là nhờ loại bỏ hết sạch vi sinh vật.
Việc axit tiết ra làm môi trường xung quanh ngả sang tính axit là điều kiện khó sống với phần lớn vi sinh vật.
Đáp ánD. Việc axit tiết ra làm môi trường xung quanh ngả sang tính axit là điều kiện khó sống với phần lớn vi sinh vật.
Đáp án đúng khớp với câu thứ năm của bài. Ý "phân định rạch ròi theo chủng loại" chỏi với câu bài nói rằng đó "chỉ là cách nhìn xem kết quả có ích cho con người hay không" chứ không phải bản thân chủng loại. Ý "loại bỏ hết sạch" thì ngược hẳn với câu "không phải được giữ nhờ đuổi vi sinh vật đi". Ý "hầu như không làm" chỏi với câu nói khắp nơi đều phát triển thực phẩm lên men vào thời chưa có tủ lạnh.
Câu 24 | Bài đọc lên men: chỗ trống
【Bài đọc】Lên men và ôi thiu đều là hoạt động vi sinh vật phân giải thức ăn. Thứ chia đôi hai hiện tượng ấy không phải bản thân chủng loại vi sinh vật, mà chỉ là cách nhìn xem kết quả của nó có ích cho con người hay không. Trong quá trình phân giải, các thành phần tạo nên vị chua và mùi thơm sinh ra; nếu vị ngon lên hoặc để được lâu hơn thì gọi là lên men, còn nếu không ăn được nữa thì gọi là ôi thiu. Sở dĩ để được lâu hơn là vì đám vi sinh vật sinh sôi trước đã chiếm hết chỗ và chất dinh dưỡng, khiến những vi sinh vật khác đến sau khó sinh sôi. Việc axit tiết ra làm môi trường xung quanh ngả sang tính axit cũng là điều kiện khó sống đối với phần lớn vi sinh vật. (chỗ trống), thực phẩm lên men không phải được giữ nhờ đuổi vi sinh vật đi, mà được giữ nhờ mời sẵn những vi sinh vật có lợi vào ở trước. Việc khắp nơi đều phát triển thực phẩm lên men vào thời chưa có tủ lạnh, có thể xem là vì người ta đã biết cơ chế này qua kinh nghiệm. 【Câu hỏi】Từ nào điền vào chỗ trống là thích hợp nhất?
ví dụ (たとえば, tatoeba)
tức là (つまり, tsumari)
thế nhưng (しかし, shikashi)
nhân tiện (ところで, tokorode)
Đáp ánB. tức là (つまり, tsumari)
Trước chỗ trống, bài giải thích hai điều: đám vi sinh vật đến trước chiếm hết chỗ và dinh dưỡng, và môi trường ngả sang tính axit. Câu sau chỗ trống gom hai điều ấy lại và nói lại thành "được giữ nhờ mời sẵn những vi sinh vật có lợi vào ở trước". Vậy từ nói lại "tức là" là đúng. Dùng "thế nhưng" thì hai vế phải chỏi nhau, mà nội dung là một. Nếu là "ví dụ" thì vế sau phải là trường hợp cụ thể, nếu là "nhân tiện" thì phải đổi sang chuyện khác, cả hai đều không hợp.
Câu 25 | Lý do để được lâu
【Bài đọc】Lên men và ôi thiu đều là hoạt động vi sinh vật phân giải thức ăn. Thứ chia đôi hai hiện tượng ấy không phải bản thân chủng loại vi sinh vật, mà chỉ là cách nhìn xem kết quả của nó có ích cho con người hay không. Trong quá trình phân giải, các thành phần tạo nên vị chua và mùi thơm sinh ra; nếu vị ngon lên hoặc để được lâu hơn thì gọi là lên men, còn nếu không ăn được nữa thì gọi là ôi thiu. Sở dĩ để được lâu hơn là vì đám vi sinh vật sinh sôi trước đã chiếm hết chỗ và chất dinh dưỡng, khiến những vi sinh vật khác đến sau khó sinh sôi. Việc axit tiết ra làm môi trường xung quanh ngả sang tính axit cũng là điều kiện khó sống đối với phần lớn vi sinh vật. Tức là thực phẩm lên men không phải được giữ nhờ đuổi vi sinh vật đi, mà được giữ nhờ mời sẵn những vi sinh vật có lợi vào ở trước. Việc khắp nơi đều phát triển thực phẩm lên men vào thời chưa có tủ lạnh, có thể xem là vì người ta đã biết cơ chế này qua kinh nghiệm. 【Câu hỏi】Vì sao lên men lại làm thực phẩm để được lâu hơn?
Vì đám vi sinh vật sinh sôi trước đã chiếm hết chỗ và chất dinh dưỡng, khiến những con đến sau khó sinh sôi
Vì phân giải càng tiến triển thì nước trong thức ăn càng mất đi
Vì thành phần tạo nên mùi thơm khiến vi sinh vật không dám lại gần
Vì trong quá trình lên men, toàn bộ vi sinh vật đều chết đi
Đáp ánA. Vì đám vi sinh vật sinh sôi trước đã chiếm hết chỗ và chất dinh dưỡng, khiến những con đến sau khó sinh sôi
Chính câu mở đầu bằng "sở dĩ để được lâu hơn là vì" đã nêu thẳng lý do, và trong nguyên văn tiếng Nhật câu ấy kết thúc bằng からだ, một dấu hiệu dễ nhận. Vi sinh vật không chết đi; bài nói đây là cơ chế mời những con có lợi vào ở. Thành phần tạo mùi thơm chỉ được nêu như một thay đổi về vị, bài không hề nói nó xua vi sinh vật. Bài cũng không có chỗ nào nói nước trong thức ăn mất đi.
Câu 26 | Bài đọc lên men: đại ý
【Bài đọc】Lên men và ôi thiu đều là hoạt động vi sinh vật phân giải thức ăn. Thứ chia đôi hai hiện tượng ấy không phải bản thân chủng loại vi sinh vật, mà chỉ là cách nhìn xem kết quả của nó có ích cho con người hay không. Trong quá trình phân giải, các thành phần tạo nên vị chua và mùi thơm sinh ra; nếu vị ngon lên hoặc để được lâu hơn thì gọi là lên men, còn nếu không ăn được nữa thì gọi là ôi thiu. Sở dĩ để được lâu hơn là vì đám vi sinh vật sinh sôi trước đã chiếm hết chỗ và chất dinh dưỡng, khiến những vi sinh vật khác đến sau khó sinh sôi. Việc axit tiết ra làm môi trường xung quanh ngả sang tính axit cũng là điều kiện khó sống đối với phần lớn vi sinh vật. Tức là thực phẩm lên men không phải được giữ nhờ đuổi vi sinh vật đi, mà được giữ nhờ mời sẵn những vi sinh vật có lợi vào ở trước. Việc khắp nơi đều phát triển thực phẩm lên men vào thời chưa có tủ lạnh, có thể xem là vì người ta đã biết cơ chế này qua kinh nghiệm. 【Câu hỏi】Đại ý của bài văn này là gì, phương án nào thích hợp nhất?
Lên men và ôi thiu là hai hiện tượng được phân biệt nghiêm ngặt theo chủng loại vi sinh vật tham gia.
Loại bỏ hoàn toàn vi sinh vật là cách duy nhất để thực phẩm để được lâu.
Lên men là kỹ thuật lan ra khắp nơi nhân dịp tủ lạnh trở nên phổ biến.
Thực phẩm lên men được giữ nhờ mời sẵn những vi sinh vật có lợi vào ở trước.
Đáp ánD. Thực phẩm lên men được giữ nhờ mời sẵn những vi sinh vật có lợi vào ở trước.
Câu mở đầu bằng "tức là" chính là phần tổng kết toàn bài và đại ý nằm ở đó. Ý phân biệt nghiêm ngặt thì chỏi với chỗ bài nói đó chỉ là khác nhau ở cách nhìn. Bài viết rằng thực phẩm lên men phát triển vào thời chưa có tủ lạnh, ngược với lời giải thích lấy sự phổ biến của tủ lạnh làm cái cớ. Cách loại bỏ hoàn toàn cũng bị chính bài phủ định.
Câu 27 | Bài đọc cuộc họp: nội dung
【Bài đọc】Người ta vẫn nghĩ nói câu "tôi không hiểu" trong cuộc họp là điều cần đến can đảm. Vì sợ bị người khác biết là mình chưa hiểu. Thế nhưng nếu cứ để mặc mình không hiểu ngay tại chỗ đó thì người chịu phiền về sau không chỉ là bản thân người đã không hỏi. Nếu hiểu sai nội dung đã chốt mà công việc vẫn chạy tiếp, rồi phải làm lại, thì người mất thời gian là tất cả mọi người. Một điểm nữa dễ bị bỏ sót là chưa chắc chỉ mình ta thấy khó hiểu. Chỗ nào giải thích chưa đủ thì thường có mấy người cùng vướng như nhau. Chỉ vì không ai mở miệng nên trông như cả phòng đều đã hiểu. Vì vậy nên nghĩ rằng đặt câu hỏi không phải là hành vi cầu cứu của người hiểu chậm, mà là hành vi lấp lỗ hổng của phần giải thích cho tất cả mọi người. Một cuộc họp có dễ hỏi hay không, phần lớn không do tính cách người dự, mà do ngay từ đầu có nói rõ "cứ chặn giữa chừng cũng được" hay không. 【Câu hỏi】Phương án nào khớp với nội dung bài đọc?
Có khi vì không ai hỏi nên trông như cả phòng đều đã hiểu.
Người chịu phiền vì để mặc mình không hiểu chỉ là chính người đã không hỏi.
Một cuộc họp có dễ hỏi hay không là do tính cách của người dự quyết định.
Chỗ nào giải thích chưa đủ thì thường chỉ có một người vướng mắc.
Đáp ánA. Có khi vì không ai hỏi nên trông như cả phòng đều đã hiểu.
Đáp án đúng khớp với câu "chỉ vì không ai mở miệng nên trông như cả phòng đều đã hiểu". Ý "chỉ là chính người đã không hỏi" chỏi với câu "không chỉ là bản thân người đã không hỏi". Ý "chỉ có một người" chỏi với câu "thường có mấy người cùng vướng như nhau". Ý "do tính cách quyết định" chỏi với câu "phần lớn không do tính cách người dự".
Câu 28 | Bài đọc cuộc họp: chỗ trống
【Bài đọc】Người ta vẫn nghĩ nói câu "tôi không hiểu" trong cuộc họp là điều cần đến can đảm. Vì sợ bị người khác biết là mình chưa hiểu. (chỗ trống), nếu cứ để mặc mình không hiểu ngay tại chỗ đó thì người chịu phiền về sau không chỉ là bản thân người đã không hỏi. Nếu hiểu sai nội dung đã chốt mà công việc vẫn chạy tiếp, rồi phải làm lại, thì người mất thời gian là tất cả mọi người. Một điểm nữa dễ bị bỏ sót là chưa chắc chỉ mình ta thấy khó hiểu. Chỗ nào giải thích chưa đủ thì thường có mấy người cùng vướng như nhau. Chỉ vì không ai mở miệng nên trông như cả phòng đều đã hiểu. Vì vậy nên nghĩ rằng đặt câu hỏi không phải là hành vi cầu cứu của người hiểu chậm, mà là hành vi lấp lỗ hổng của phần giải thích cho tất cả mọi người. Một cuộc họp có dễ hỏi hay không, phần lớn không do tính cách người dự, mà do ngay từ đầu có nói rõ "cứ chặn giữa chừng cũng được" hay không. 【Câu hỏi】Từ nào điền vào chỗ trống là thích hợp nhất?
ví dụ (たとえば, tatoeba)
thế nhưng (しかし, shikashi)
cho nên (だから, dakara)
tức là (つまり, tsumari)
Đáp ánB. thế nhưng (しかし, shikashi)
Trước chỗ trống là điều người ta vẫn nghĩ, rằng hỏi thì đáng sợ. Sau chỗ trống là nội dung đi ngược lại điều đó, rằng cứ im lặng thì tất cả cùng thiệt. Vậy từ nghịch chiều "thế nhưng" là đúng. Dùng "cho nên" thì hóa ra vì sợ mà cả phòng gặp phiền, không thành mạch. Nếu là "tức là" thì vế sau phải là lời nói lại, nếu là "ví dụ" thì phải là trường hợp cụ thể, cả hai đều không hợp.
Câu 29 | Lý do không chỉ một người chịu thiệt
【Bài đọc】Người ta vẫn nghĩ nói câu "tôi không hiểu" trong cuộc họp là điều cần đến can đảm. Vì sợ bị người khác biết là mình chưa hiểu. Thế nhưng nếu cứ để mặc mình không hiểu ngay tại chỗ đó thì người chịu phiền về sau không chỉ là bản thân người đã không hỏi. Nếu hiểu sai nội dung đã chốt mà công việc vẫn chạy tiếp, rồi phải làm lại, thì người mất thời gian là tất cả mọi người. Một điểm nữa dễ bị bỏ sót là chưa chắc chỉ mình ta thấy khó hiểu. Chỗ nào giải thích chưa đủ thì thường có mấy người cùng vướng như nhau. Chỉ vì không ai mở miệng nên trông như cả phòng đều đã hiểu. Vì vậy nên nghĩ rằng đặt câu hỏi không phải là hành vi cầu cứu của người hiểu chậm, mà là hành vi lấp lỗ hổng của phần giải thích cho tất cả mọi người. Một cuộc họp có dễ hỏi hay không, phần lớn không do tính cách người dự, mà do ngay từ đầu có nói rõ "cứ chặn giữa chừng cũng được" hay không. 【Câu hỏi】Vì sao tác giả nói rằng người chịu phiền khi để mặc mình không hiểu không chỉ là bản thân người đó?
Vì bên đứng ra giải thích sẽ thành ra chuẩn bị không đủ
Vì người không hỏi mà nhiều lên thì bản thân cuộc họp sẽ kéo dài ra
Vì tính cách của người dự làm thay đổi cách cuộc họp diễn ra
Vì nếu hiểu sai nội dung đã chốt mà công việc vẫn chạy tiếp rồi phải làm lại thì tất cả mọi người đều mất thời gian
Đáp ánD. Vì nếu hiểu sai nội dung đã chốt mà công việc vẫn chạy tiếp rồi phải làm lại thì tất cả mọi người đều mất thời gian
Câu liền sau đó nói cụ thể lý do: nếu hiểu sai nội dung đã chốt mà công việc vẫn chạy tiếp, rồi phải làm lại, thì người mất thời gian là tất cả mọi người. Bài không có chỗ nào nói cuộc họp sẽ kéo dài, cũng không nói gì về việc bên giải thích chuẩn bị không đủ. Về tính cách người dự, bài lại phủ định rằng đó không phải thứ quyết định mức độ dễ hỏi.
Câu 30 | Bài đọc cuộc họp: luận điểm
【Bài đọc】Người ta vẫn nghĩ nói câu "tôi không hiểu" trong cuộc họp là điều cần đến can đảm. Vì sợ bị người khác biết là mình chưa hiểu. Thế nhưng nếu cứ để mặc mình không hiểu ngay tại chỗ đó thì người chịu phiền về sau không chỉ là bản thân người đã không hỏi. Nếu hiểu sai nội dung đã chốt mà công việc vẫn chạy tiếp, rồi phải làm lại, thì người mất thời gian là tất cả mọi người. Một điểm nữa dễ bị bỏ sót là chưa chắc chỉ mình ta thấy khó hiểu. Chỗ nào giải thích chưa đủ thì thường có mấy người cùng vướng như nhau. Chỉ vì không ai mở miệng nên trông như cả phòng đều đã hiểu. Vì vậy nên nghĩ rằng đặt câu hỏi không phải là hành vi cầu cứu của người hiểu chậm, mà là hành vi lấp lỗ hổng của phần giải thích cho tất cả mọi người. Một cuộc họp có dễ hỏi hay không, phần lớn không do tính cách người dự, mà do ngay từ đầu có nói rõ "cứ chặn giữa chừng cũng được" hay không. 【Câu hỏi】Phương án nào là luận điểm của tác giả, thích hợp nhất?
Nói được câu mình không hiểu hay không, rốt cuộc là do lượng can đảm của người đó quyết định.
Hỏi trong cuộc họp thì làm đứt mạch nên tốt hơn là hỏi riêng sau khi họp xong.
Đặt câu hỏi là hành vi lấp lỗ hổng của phần giải thích cho tất cả mọi người, và nên nói rõ ngay từ đầu rằng cứ chặn giữa chừng cũng được để tạo ra chỗ dễ hỏi.
Trong cuộc họp, việc người hiểu chậm cầu cứu những người xung quanh là điều quan trọng hơn cả.
Đáp ánC. Đặt câu hỏi là hành vi lấp lỗ hổng của phần giải thích cho tất cả mọi người, và nên nói rõ ngay từ đầu rằng cứ chặn giữa chừng cũng được để tạo ra chỗ dễ hỏi.
Hai câu cuối, mở đầu bằng "vì vậy", là phần tổng kết, ở đó có cả cách định nghĩa việc đặt câu hỏi lẫn cách tạo ra chỗ dễ hỏi. Bài phủ định rõ rằng hỏi "không phải là hành vi cầu cứu của người hiểu chậm" nên phương án đầu ngược với luận điểm. Chuyện hỏi riêng sau khi họp thì bài không hề nhắc, bài chỉ nói cái thiệt của việc để mặc mình không hiểu ngay tại chỗ. Cách nhìn lấy can đảm làm thước đo là quan niệm phổ biến nêu ở đầu bài, và cuối bài tác giả nói lại rằng phần lớn là do cách nói ngay từ đầu.
Luyện tập: giải các câu hỏi trên trang này
Đây là công cụ luyện tập với câu hỏi ngẫu nhiên (hoạt động khi JavaScript được bật). Bạn vẫn có thể đọc toàn bộ câu hỏi và phần giải thích ở trên.
* Lời giải là thông tin phục vụ việc học. Phạm vi ra đề và chế độ thi có thể thay đổi theo từng năm, vì vậy hãy luôn kiểm tra thông báo chính thức của đơn vị tổ chức thi.
Trang này là bản dịch từ nguyên bản tiếng Nhật. Nếu nội dung bản dịch và nguyên bản khác nhau, bản tiếng Nhật sẽ được ưu tiên. Xem nguyên bản tiếng Nhật