Cổ điển: kaeriten (dấu thứ tự đọc), chữ đọc hai lần, cú pháp
Tổng 40 câu · 6 lĩnh vực
Chữ đọc hai lần
Câu 1 | 未 (imada ... zu)
Cách đọc kakikudashi và ý nghĩa nào của chữ đọc hai lần 未 là đúng?
Đọc là よろしく〜べし yoroshiku ... beshi, nghĩa là nên làm điều đó thì hơn
Đọc là いまだ〜ず imada ... zu, nghĩa là vẫn chưa làm điều đó
Đọc là まさに〜んとす masani ... n to su, nghĩa là sắp sửa làm điều đó ngay bây giờ
Đọc là なんぞ〜ざる nanzo ... zaru, nghĩa là tại sao lại không làm điều đó
Đáp ánB. Đọc là いまだ〜ず imada ... zu, nghĩa là vẫn chưa làm điều đó
未 được đọc hai lần thành いまだ〜ず (imada ... zu), diễn tả sự chưa hoàn tất, tức là vẫn chưa làm xong. Nguyên tắc của chữ đọc hai lần là theo các dấu đảo mà lần đọc thứ nhất coi nó như phó từ, lần đọc thứ hai coi nó như trợ động từ phủ định. Nó dễ bị lẫn với 将 (masani ... n to su), nhưng khác biệt quyết định là 未 có chứa ý phủ định. Khi viết kakikudashi mà quên chuyển chữ ず ở lần đọc thứ hai sang hiragana thì rất dễ bị trừ điểm.
Câu 2 | 将 (masani ... n to su)
Khi dùng 将 như một chữ đọc hai lần thì nghĩa nào là đúng?
Vẫn chưa làm điều đó
Đúng là giống như điều đó
Cần phải làm điều đó
Sắp sửa làm điều đó ngay bây giờ
Đáp ánD. Sắp sửa làm điều đó ngay bây giờ
将 được đọc là まさに〜んとす (masani ... n to su), diễn tả tương lai gần, tức sắp sửa làm điều gì đó. Chữ 且 cũng đọc như vậy và gần như đồng nghĩa, cách học chuẩn mực là nhớ cả cặp. Vì lần đọc thứ nhất trùng với 当 (masani ... beshi) nên cái bẫy hay gặp là phải phân biệt bằng lần đọc thứ hai, tức n to su hay beshi.
Câu 3 | 当 (masani ... beshi)
Nghĩa đúng nhất của chữ đọc hai lần 当 là gì?
Vẫn chưa làm điều đó
Sắp sửa làm điều đó ngay bây giờ
Đúng là giống như điều đó
Đương nhiên phải làm điều đó
Đáp ánD. Đương nhiên phải làm điều đó
当 được đọc là まさに〜べし (masani ... beshi), diễn tả bổn phận mạnh mẽ, tức đương nhiên phải làm. Chữ gần nghĩa là 応 (masani ... beshi) thì về cơ bản lại dịch nghiêng về phía suy đoán, tức hẳn là sẽ như vậy, và cách dịch phân biệt này chính là chỗ đề trắc nghiệm nhắm tới. Cũng cần lưu ý nó trùng lần đọc thứ nhất với 将 (masani ... n to su).
Câu 4 | 宜 (yoroshiku ... beshi)
Cách đọc kakikudashi nào của chữ đọc hai lần 宜 là đúng?
yoroshiku ... beshi
subekaraku ... beshi
nansurezo ... zaru
masani ... beshi
Đáp ánA. yoroshiku ... beshi
宜 được đọc là よろしく〜べし (yoroshiku ... beshi), diễn tả lời khuyên nhẹ nhàng rằng làm như thế thì tốt. Vì 須 (subekaraku ... beshi, cần phải làm) và 当 (masani ... beshi, đương nhiên phải làm) đều có lần đọc thứ hai là beshi giống nhau, nên yếu huyệt của bài thi là phân biệt ở lần đọc thứ nhất. Hãy nắm rằng yoroshiku ở đây không phải lời chào của tiếng Nhật hiện đại mà mang nghĩa khuyên nhủ, thích hợp.
Câu 5 | 須 (subekaraku ... beshi)
Khi đọc 須 như một chữ đọc hai lần thì nghĩa nào là đúng?
Vẫn chưa làm điều đó
Không được phép làm điều đó
Có lẽ là sẽ như thế
Nhất thiết cần phải làm điều đó
Đáp ánD. Nhất thiết cần phải làm điều đó
須 được đọc là すべからく〜べし (subekaraku ... beshi), diễn tả sự cần thiết và nghĩa vụ, tức nhất thiết phải làm. Nếu giữ nguyên cảm giác dùng sai của tiếng Nhật hiện đại, vốn hay hiểu subekaraku thành tất cả, thì sẽ dịch sai và mất điểm. Hãy phân biệt với 宜 (nên làm thì hơn) ở mức độ cưỡng chế cao hơn, và nhớ 須 chính là chữ 須 trong từ tất tu, nghĩa là bắt buộc.
Câu 6 | 猶 (nao ... gotoshi)
Tổ hợp cách đọc kakikudashi và ý nghĩa nào của chữ đọc hai lần 猶 là đúng?
nao ... gotoshi, nghĩa là đúng như là điều đó
imada ... gotoshi, nghĩa là chưa giống như thế
nao ... gotoshi, nghĩa là vẫn cứ không chịu làm
masani ... gotoshi, nghĩa là đương nhiên phải như thế
Đáp ánA. nao ... gotoshi, nghĩa là đúng như là điều đó
猶 được đọc là なほ〜ごとし (nao ... gotoshi), là chữ đọc hai lần diễn tả sự ví von, tức đúng như là; chữ 由 cũng vậy. Nhớ theo câu 過猶不及, đọc là sugitaru wa nao oyobazaru ga gotoshi, nghĩa là thái quá thì cũng như bất cập, sẽ rất dễ thuộc. Vì nó còn có cách dùng làm phó từ không đọc hai lần với nghĩa dù vậy vẫn, nên hãy nhìn xem phía dưới có dấu đảo quay về chữ gotoshi hay không mà quyết.
Phủ định
Câu 7 | Phủ định bộ phận
Khi từ phủ định đứng trên chữ 常 như trong 不常来, đọc là tsune ni wa kitarazu, thì nghĩa nào là đúng?
Nhất định sẽ đến
Lúc nào cũng không đến
Chưa một lần nào đến
Không hẳn lúc nào cũng đến
Đáp ánD. Không hẳn lúc nào cũng đến
Dạng 不常〜 với từ phủ định đứng trên phó từ là phủ định bộ phận, phải dịch là không hẳn lúc nào cũng làm điều đó. Dạng đảo lại là 常不来 thì thành phủ định toàn bộ, tức lúc nào cũng không đến, và nghĩa ngược hẳn. Quy tắc sắt là phán đoán một cách máy móc theo trật tự chữ: hễ từ phủ định ở trên thì là phủ định bộ phận. Đây cũng là chỗ tạo khoảng cách điểm số lớn nhất ở dạng trắc nghiệm của kỳ thi chung.
Câu 8 | Phủ định toàn bộ
Nghĩa đúng của 常不読書, đọc là tsune ni sho wo yomazu, là gì?
Không có chuyện không đọc sách
Thỉnh thoảng cũng có đọc sách
Không hẳn lúc nào cũng đọc sách
Lúc nào cũng không đọc sách
Đáp ánD. Lúc nào cũng không đọc sách
Dạng 常不〜 với chữ 常 đứng trên từ phủ định 不 là phủ định toàn bộ, phủ nhận hoàn toàn, tức lúc nào cũng không làm. Khác biệt về trật tự chữ so với 不常〜, vốn là phủ định bộ phận nghĩa không hẳn lúc nào cũng, chính là cái bẫy quen thuộc của bài thi. Hãy nghĩ rằng chữ đứng trên có hiệu lực trước, nên chữ 常 nằm trên từ phủ định sẽ bổ nghĩa cho toàn bộ phần còn lại.
Câu 9 | Phủ định kép
Nghĩa đúng của 無不知, đọc là shirazaru wa nashi, là gì?
Không hẳn là biết
Không có ai là không biết, tức mọi người đều biết
Không được phép biết
Không một ai biết cả
Đáp ánB. Không có ai là không biết, tức mọi người đều biết
Phủ định kép do chồng hai từ phủ định lên nhau sẽ thành lời khẳng định mạnh, nên 無不知 có nghĩa là mọi người đều biết. Rất nhiều người thấy hai từ phủ định đứng cạnh nhau là phản xạ dịch thành không biết. Hãy xử lý máy móc rằng phủ định nhân phủ định thành khẳng định mạnh, và học thuộc luôn cả khuôn kakikudashi 〜ざるはなし (... zaru wa nashi) thì sẽ an toàn.
Câu 10 | 不敢 (aete ... zu)
Nghĩa đúng nhất của 不敢言, đọc là aete iwazu, là gì?
Không đời nào có chuyện không nói
Tuyệt đối không được nói
Không thể không nói
Không chủ động lên tiếng nói ra
Đáp ánD. Không chủ động lên tiếng nói ra
Dạng 不敢〜 đọc là あへて〜ず (aete ... zu), nghĩa là không chủ động làm, không đủ can đảm để làm. Dạng đảo lại là 敢不〜, đọc là あへて〜ざらんや (aete ... zaran ya), thì lại là phản vấn, nghĩa là lẽ nào lại không làm, tức chắc chắn sẽ làm, nghĩa gần như ngược hẳn. Khác biệt về trật tự chữ giữa 不敢 và 敢不 là chỗ mất điểm hay gặp, nên hãy đọc thẳng thắn từ chữ nằm trên xuống.
Câu 11 | 不復 (phủ định bộ phận)
Nghĩa đúng của 不復飲, đọc là mata nomazu, là gì?
Không đời nào lại không uống
Không uống thêm lần nào nữa
Chưa một lần nào uống
Rốt cuộc lại uống mất rồi
Đáp ánB. Không uống thêm lần nào nữa
Dạng 不復〜 là phủ định bộ phận, nghĩa là không lặp lại thêm lần nữa, tức lần đầu thì đã có nhưng không tái diễn. Nếu là 復不〜 thì thành phủ định toàn bộ, nghĩa là lần này cũng lại không làm. Cũng như 不常 và 不必, ta xử lý được bằng nguyên tắc hễ từ phủ định nằm trên phó từ thì là phủ định bộ phận. Nhặt ra được sắc thái không thêm lần nào nữa trong các phương án hay không chính là ranh giới ăn điểm.
Câu 12 | 莫 (nashi)
Cách đọc và nghĩa cơ bản nào của chữ phủ định 莫 là đúng?
Chỉ đọc được là nakare và là chữ chuyên dùng để cấm đoán
Đọc là nashi, nghĩa là không có cái gì làm điều đó
Đọc là arazu, nghĩa là không phải là như thế
Đọc là zu, dùng để phủ định hành động
Đáp ánB. Đọc là nashi, nghĩa là không có cái gì làm điều đó
莫 về cơ bản giống 無, đọc là なし (nashi), phủ định sự tồn tại. Nếu đặt ở cuối câu và đọc là なかれ (nakare) thì thành lời cấm, nhưng nó không phải chữ chuyên dùng để cấm, và đó chính là cái bẫy trong các phương án. Hãy sắp xếp vai trò của từng từ phủ định: 非 (arazu) phủ định một phán đoán, 不 (zu) phủ định một hành động; làm vậy thì các bài về cú pháp nói chung sẽ ít mất điểm.
Câu 13 | 不可不 (... zaru bekarazu)
Nghĩa đúng của 不可不学, đọc là manabazaru bekarazu, là gì?
Không thể học được
Không thể không học, tức nhất định phải học
Không được phép học
Không hẳn là sẽ học
Đáp ánB. Không thể không học, tức nhất định phải học
Dạng 不可不〜 là phủ định kép, nghĩa là không được phép không làm, tức diễn tả nghĩa vụ mạnh mẽ rằng nhất định phải làm. Vì mặt chữ giống với 不可〜, đọc là 〜すべからず (... subekarazu, không được phép làm), nên nhất định phải kiểm tra xem có hai chữ 不 hay không. Đây là dạng tiêu biểu cho công thức phủ định kép thành khẳng định mạnh, nên hãy học thuộc cả phần kakikudashi.
Câu 14 | 非 (arazu)
Chức năng nào của chữ 非 trong 人に非ざるなり, đọc là hito ni arazaru nari, là đúng?
Tạo câu phản vấn để diễn đạt lời khẳng định mạnh
Phủ định danh từ và những thứ tương tự, nghĩa là không phải như thế
Phủ định hành động của động từ
Ngăn cấm, nghĩa là đừng làm điều đó
Đáp ánB. Phủ định danh từ và những thứ tương tự, nghĩa là không phải như thế
非 đọc là 〜にあらず (... ni arazu), là từ phủ định dùng cho phán đoán, phủ định danh từ hay trạng thái theo kiểu A không phải là B. Kiến thức cơ bản hay bị hỏi là phân biệt nó với 不 vốn dùng để phủ định hành động. Nguyên tắc khi viết kakikudashi là bổ sung chữ に (ni) ngay trước để thành 〜に非ず, và việc đánh rơi chữ に này cũng rất dễ bị trừ điểm.
Nghi vấn và phản vấn
Câu 15 | 何 (nanzo)
Nghĩa cơ bản của chữ 何 đứng đầu câu như trong 何笑, đọc là nanzo warau, là gì?
Vì sao, dùng để hỏi lý do
Ở đâu, dùng để hỏi nơi chốn
Ai, dùng để hỏi về người
Khi nào, dùng để hỏi thời điểm
Đáp ánA. Vì sao, dùng để hỏi lý do
何 đứng đầu câu, đọc là なんぞ (nanzo), là từ để hỏi nguyên nhân và lý do, dịch cơ bản là vì sao lại làm như vậy. Nếu đọc là なに hay なにをか (nani, nani wo ka) thì nó lại thành cách hỏi tân ngữ, tức hỏi cái gì, và đề bài hay bắt phân biệt cách đọc. Cũng cần xác nhận thêm rằng nếu cuối câu là 〜ん (... n) thì câu chuyển thành phản vấn.
Câu 16 | 安 (izukunzo)
Nghĩa đúng nhất của 安知, đọc là izukunzo shiran, là gì?
Đã biết từ khi nào
Không thể nào không biết
Làm sao mà biết được, tức là không biết
Đã biết ở nơi nào
Đáp ánC. Làm sao mà biết được, tức là không biết
Dạng 安くんぞ〜ん (izukunzo ... n) là phản vấn, diễn tả sự phủ định mạnh theo kiểu làm sao lại thế được, tức là không phải thế. Chữ 安 còn có cách đọc いづくにか (izuku ni ka) để hỏi nơi chốn, nên phải dựa vào mạch văn và chữ ん ở cuối câu mà quyết. Quy tắc sắt của phản vấn là bổ sung ý phủ định vào cuối bản dịch; nếu cứ dịch như câu hỏi thường thì sẽ chọn nhầm phương án.
Câu 17 | 豈 (ani ... n ya)
Nghĩa đúng của 豈忘之乎, đọc là ani kore wo wasuren ya, là gì?
Lẽ nào lại quên điều này, tức là không hề quên
Phải chăng đã quên mất điều này rồi
Đang hỏi xem có được phép quên điều này hay không
Chắc chắn rồi sẽ quên mất điều này
Đáp ánA. Lẽ nào lại quên điều này, tức là không hề quên
Dạng 豈に〜んや (ani ... n ya) là khuôn tiêu biểu của phản vấn: hình thức là hỏi nhưng kết luận lại là phủ định, mà về nội dung chính là lời khẳng định mạnh rằng quyết không quên. Cách đọc thực chiến là hễ thấy chữ 豈 thì trước hết hãy ngờ tới phản vấn. Phương án dịch thành câu hỏi thường theo kiểu phải chăng là cái bẫy quen thuộc, nên hãy lấy chữ んや ở cuối câu làm căn cứ mà khẳng định.
Câu 18 | 乎 (ya, ka)
Chức năng cơ bản nào của chữ 乎 ở cuối câu là đúng?
Diễn tả sự sai khiến
Diễn tả sự phủ định
Chỉ được dùng làm giới từ chỉ nơi chốn
Là trợ tự đứng cuối câu, diễn tả nghi vấn hoặc phản vấn
Đáp ánD. Là trợ tự đứng cuối câu, diễn tả nghi vấn hoặc phản vấn
乎 ở cuối câu đọc là や hoặc か (ya, ka), là trợ tự cuối câu diễn tả nghi vấn, phản vấn hoặc thán thức; các chữ 哉, 邪, 与 cũng cùng nhóm. Ngược lại, 乎 nằm giữa câu thì giống chữ 於, trở thành giới từ chỉ nơi chốn hay sự so sánh, đọc là 〜に hoặc 〜より. Dạng ra đề quen thuộc là hỏi về việc chức năng thay đổi theo vị trí, tức cuối câu hay giữa câu, nên cứ máy móc đọc là ya thì sẽ sai.
Câu 19 | Phân biệt nghi vấn và phản vấn
Manh mối nào là thích hợp nhất để phân biệt câu nghi vấn và câu phản vấn trong Hán văn?
Hễ có từ để hỏi thì chắc chắn là nghi vấn, còn phản vấn thì không dùng từ để hỏi
Nếu cuối câu kết bằng dạng suy đoán n hoặc n ya thì đáng ngờ là phản vấn
Có chủ ngữ ở đầu câu thì là nghi vấn, không có thì là phản vấn
Câu phản vấn nhất định phải chứa một từ phủ định như 不
Đáp ánB. Nếu cuối câu kết bằng dạng suy đoán n hoặc n ya thì đáng ngờ là phản vấn
Vì nghi vấn và phản vấn dùng chung một từ để hỏi, nên hình thức của phần cuối câu mới là manh mối lớn nhất. Nếu kết bằng chữ ん mang nghĩa suy đoán hay ý chí, tức dạng 〜んや hay 〜ん, thì khả năng cao là phản vấn; còn 〜や hay dạng rentaikei cộng か thì nghiêng về nghi vấn. Vì phản vấn phải dịch kèm ý phủ định bổ sung, nên chọn phương án dịch như câu hỏi thường là mất trắng điểm. Cuối cùng vẫn cần thái độ dựa vào mạch văn để chốt lại.
Câu 20 | 何如 và 如何
Cách phân biệt nào giữa 何如 và 如何 là đúng?
如何 không dùng để hỏi mà chỉ chuyên dùng cho phản vấn
Cả hai hoàn toàn như nhau nên không cần phân biệt
何如 về cơ bản hỏi trạng thái và mức độ, còn 如何 hỏi phương tiện và cách làm
何如 hỏi cách làm, còn 如何 hỏi trạng thái
Đáp ánC. 何如 về cơ bản hỏi trạng thái và mức độ, còn 如何 hỏi phương tiện và cách làm
Nguyên tắc là 何如, đọc いかん (ikan), hỏi trạng thái, mức độ hay phải trái, tức sự thể ra sao; còn 如何, đọc いかん hoặc いかんせん (ikan, ikansen), hỏi phương tiện và cách làm, tức phải làm thế nào. Chỉ đảo trật tự chữ mà nội dung hỏi đã đổi, nên đây là đề trắc nghiệm rất hay gặp. Cũng nên nắm rằng khi 如何 được đọc là ikansen thì nó nghiêng về thán thức hoặc phản vấn với nghĩa biết làm sao được.
Câu 21 | 誰 (tare ka)
Chức năng nào của chữ 誰 trong 誰能行之, đọc là tare ka yoku kore wo okonawan, là đúng?
Hỏi số lượng, nghĩa là bao nhiêu
Hỏi lý do, nghĩa là vì sao
Là từ để hỏi về người, nghĩa ai là người làm điều đó, và cũng dùng cho phản vấn
Hỏi nơi chốn, nghĩa là ở đâu
Đáp ánC. Là từ để hỏi về người, nghĩa ai là người làm điều đó, và cũng dùng cho phản vấn
誰, đọc là たれ hoặc たれか (tare, tare ka), là từ để hỏi về người; nếu cuối câu là ん (n) thì thành phản vấn, nghĩa là nào có ai làm nổi điều đó, tức chẳng ai làm được. Câu ví dụ này cũng vậy, ý là không ai thi hành nổi. Chữ 孰, đọc いづれ hoặc たれ (izure, tare), cũng là từ để hỏi gần nghĩa, dùng cho người hoặc cho sự lựa chọn, nên học chung một cặp thì hiệu quả hơn.
Câu 22 | 幾何 (ikubaku)
Cách đọc và nghĩa nào của 幾何 là đúng?
Đọc là ikan, dùng để hỏi cách làm
Đọc là nansurezo, dùng để hỏi lý do
Đọc là ikubaku, dùng để hỏi số lượng và mức độ
Đọc là izukunzo, dùng để diễn tả phản vấn
Đáp ánC. Đọc là ikubaku, dùng để hỏi số lượng và mức độ
幾何, đọc いくばく (ikubaku), là từ để hỏi số lượng hay mức độ, nghĩa là được bao nhiêu. Nó cũng hay được dùng theo lối phản vấn kèm thán thức, như trong 人生幾何, đọc jinsei ikubaku zo, ngụ ý đời người nào có được bao nhiêu. Vì đề chủ yếu hỏi ngay chính cách đọc, nên hãy luyện để trả lời tức thì rằng 幾何 đọc là ikubaku.
Sai khiến và bị động
Câu 23 | 使 (shimu)
Cú pháp nào của 使民耕, đọc là tami wo shite tagayashimu, là đúng?
Sai khiến, tức bắt ai đó làm việc gì
Bị động, tức bị người khác làm cho
So sánh, tức hơn kém so với cái gì
Cấm đoán, tức đừng làm việc đó
Đáp ánA. Sai khiến, tức bắt ai đó làm việc gì
使 là trợ tự tiêu biểu cho lối sai khiến, dịch theo kiểu 使AB là bắt A làm B. Khuôn viết kakikudashi là thêm をして (wo shite) sau đối tượng và kết câu bằng しむ (shimu). Kiểu mất điểm điển hình là đánh rơi をして hoặc hiểu nhầm thành bị động, nên hãy gom bốn chữ 使, 令, 教, 遣 lại mà nhớ chung như bộ tứ của lối sai khiến.
Câu 24 | 令 (shimu)
Cách viết kakikudashi nào của 令子読書, dùng chữ 令 theo lối sai khiến, là đúng?
ko ni sho wo yomu wo unagasu
ko wa sho wo yomu wo rei to su
ko, sho wo yomite yoshi
ko wo shite sho wo yomashimu
Đáp ánD. ko wo shite sho wo yomashimu
令 cũng như 使, là trợ tự của lối sai khiến, và 令AB được viết kakikudashi thành AをしてBせしむ (A wo shite B seshimu). Cái bẫy là từ hình ảnh chữ 令 trong từ mệnh lệnh mà đọc nó thành động từ ra lệnh, nhưng ở bài về cú pháp thì trước hết hãy ngờ tới lối sai khiến. Đừng bỏ sót bộ đôi: をして cho đối tượng và しむ ở cuối câu.
Câu 25 | 教 và 遣 (shimu)
Ngoài 使 và 令, tổ hợp chữ nào cũng diễn tả lối sai khiến?
見 và 被
於 và 于
教 và 遣
未 và 将
Đáp ánC. 教 và 遣
Ngoài 使 và 令, trợ tự của lối sai khiến còn có 教, nghĩa là khiến ai đó làm gì, và 遣, nghĩa là phái ai đó đi làm gì; cả hai đều đọc là しむ (shimu). Nếu chỉ nhớ 教 là dạy và 遣 là phái đi thì sẽ đọc sai trong câu sai khiến. Hãy cảnh giác với các phương án trộn lẫn những chữ có chức năng khác: 見 và 被 là bị động, còn 於 và 于 là giới từ.
Câu 26 | 見 (ru, raru)
Chữ 見 đặt trên động từ như trong 見欺, đọc là azamukaru, có chức năng gì?
Sai khiến, tức bắt người khác làm
Khả năng, tức có thể làm được
Nguyện vọng, tức muốn làm
Bị động, tức bị người khác làm cho
Đáp ánD. Bị động, tức bị người khác làm cho
見 đặt ngay trước động từ là trợ tự của lối bị động, nên 見欺 nghĩa là bị lừa. Lỗi hay gặp nhất là đọc nó theo nghĩa nhìn thấy; quy tắc sắt là hễ phía dưới có động từ đi liền thì hãy ngờ tới lối bị động. Sắp xếp chung các trợ tự bị động 見, 被, 為 và 所 thì sẽ ăn điểm ổn định.
Câu 27 | 被 (ru, raru)
Cách giải thích nào về chữ 被 trong 被殺, đọc là korosaru, là đúng?
Diễn tả lối sai khiến và được đọc là shimu
Diễn tả sự phủ định và được đọc là zu
Diễn tả lối bị động và được đọc là ru hoặc raru
Chỉ đọc được là komuru và không làm trợ tự
Đáp ánC. Diễn tả lối bị động và được đọc là ru hoặc raru
被 đặt trên động từ là trợ tự diễn tả lối bị động, đọc là る hoặc らる (ru, raru), nên 被殺 nghĩa là bị giết. Từ cảm giác của chữ 被 trong từ bị hại, nó cũng có cách đọc thực nghĩa là こうむる (komuru, chịu, hứng lấy), nhưng ở bài về cú pháp thì cách dùng làm trợ tự bị động mới là điều được hỏi trước tiên. Hãy nắm rằng nó cùng chức năng với 見, và điểm chấm nằm ở chỗ có chuyển được 被 thành trợ động từ viết bằng hiragana khi làm kakikudashi hay không.
Câu 28 | 為A所B (bị động)
Nghĩa đúng của 為人所笑, đọc là hito no warau tokoro to naru, là gì?
Làm cho người ta phải bật cười
Cười vì lợi ích của người khác
Bắt chước kiểu cười của người khác
Bị người ta cười chê
Đáp ánD. Bị người ta cười chê
Khuôn 為A所B đọc là AのBするところとなる (A no B suru tokoro to naru), nghĩa là bị A làm điều B, và là cú pháp bị động quan trọng bậc nhất. Nếu đọc chữ 為 thành ために (tame ni, vì lợi ích của) thì sẽ dẫn thẳng tới bản dịch sai là cười vì người khác, một cái bẫy rất hay gặp trong kỳ thi. Hãy học thuộc nguyên khuôn để vừa thấy dạng 為〜所… là nhận ra ngay lối bị động.
So sánh và lựa chọn
Câu 29 | 於 (so sánh)
Chức năng nào của chữ 於 trong 白於雪, đọc là yuki yori mo shiroshi, là đúng?
Diễn tả nghi vấn và được đọc là ya
Nêu chuẩn so sánh và được đọc là yori mo
Diễn tả bị động và được đọc là ru
Diễn tả sai khiến và được đọc là shimu
Đáp ánB. Nêu chuẩn so sánh và được đọc là yori mo
於 đứng dưới một tính từ thì nêu chuẩn so sánh và được đọc là 〜よりも (... yori mo); câu này nghĩa là trắng hơn cả tuyết. 於 là chữ đa chức năng: chỉ nơi chốn với nghĩa ở tại, chỉ bị động khi đi cùng らる, và chỉ so sánh với nghĩa hơn; mẹo là hễ ngay trước nó là tính từ thì phán đoán là so sánh. Có trường hợp nó là chữ đệm không đọc thành tiếng, nhưng riêng ở nghĩa so sánh thì nhất định phải đọc thành yori, và điểm này hay bị hỏi.
Câu 30 | 莫如 (... ni shiku wa nashi)
Nghĩa đúng của 莫如学, đọc là manabu ni shiku wa nashi, là gì?
Không học thì tốt hơn
Không gì sánh bằng việc học, tức học là hơn cả
Có học cũng chẳng ý nghĩa gì
Không được phép học
Đáp ánB. Không gì sánh bằng việc học, tức học là hơn cả
Dạng 莫如〜 đọc là 〜に如くは莫し (... ni shiku wa nashi), nghĩa là không gì sánh bằng, tức đó là thứ tốt nhất; đây là cú pháp so sánh bậc nhất. Vì có từ phủ định 莫 nên cái bẫy điển hình là đọc nhầm thành lời cấm đoán rằng đừng học. Hãy lấy nghĩa của 如く (shiku, sánh kịp) làm lõi và liên hệ với câu 百聞は一見に如かず, đọc hyakubun wa ikken ni shikazu, thì sẽ không quên.
Câu 31 | 不如 (... ni shikazu)
Nghĩa đúng của 不如帰, đọc là kaeru ni shikazu, là gì?
Không rõ có quay về hay không
Không được phép quay về
Không thể quay về được
Về là hơn cả, nói theo lối không gì bằng việc về
Đáp ánD. Về là hơn cả, nói theo lối không gì bằng việc về
Dạng 不如A đọc là Aに如かず (A ni shikazu), nghĩa là không sánh bằng A, tức rốt cuộc là đề cao A; đây là cú pháp so sánh. Nếu bị mặt chữ phủ định kéo đi rồi dịch thành đừng về thì là đọc ngược hẳn. Hãy nhớ khuôn qua câu 百聞不如一見 và xử lý máy móc rằng thứ đứng sau 不如 mới là thứ được cho là hơn.
Câu 32 | 与其A寧B
Nội dung đúng của 与其生而無義、寧死, đọc là sono ikite gi nakaran yori wa, mushiro shisen, là gì?
Dù sao đi nữa thì vẫn nên sống chứ đừng chết
Thà chọn cái chết còn hơn sống mà không có nghĩa
Vừa sống có nghĩa lại vừa không sợ chết
Không thể chọn được giữa sống và chết
Đáp ánB. Thà chọn cái chết còn hơn sống mà không có nghĩa
Khuôn 与其A寧B đọc là 其のAせんよりは寧ろBせん (sono A sen yori wa mushiro B sen), là cú pháp lựa chọn: đem A và B ra so rồi chọn B. Cạm bẫy lớn nhất là đọc chữ 与 thành と hay ともに (to, tomo ni), khiến toàn bộ cấu trúc sụp đổ. Chỉ cần nắm rằng hành động đặt sau chữ 寧ろ (mushiro) mới là phía được chọn thì câu hỏi đối chiếu nội dung cũng không còn phân vân. Đây là cú pháp tạo khoảng cách mà cả người khá cũng hay đọc sai, nên hãy đọc thành tiếng cả khuôn cho thuộc.
Câu 33 | 孰若 (izure zo)
Cú pháp so sánh và lựa chọn nào dùng để đem hai bên ra hỏi rằng A so với B thì thế nào, hàm ý B có lẽ hơn?
A不若B, đọc A wa B ni shikazu
A於B, đọc A wa B yori su
A孰若B, đọc A wa B ni izure zo
A莫若B, đọc A wa B ni shiku wa nashi
Đáp ánC. A孰若B, đọc A wa B ni izure zo
孰若, đọc いづれぞ (izure zo), cũng như 孰与, là cú pháp so sánh và lựa chọn: đặt A và B cạnh nhau rồi hỏi bên nào hơn, và thường dùng trong mạch văn thực chất là đề cao B. Còn 不若, nghĩa là không sánh bằng, lại là lối so sánh mang tính khẳng định dứt khoát, và khác biệt với 孰若 vốn mang hình thức câu hỏi chính là điều được hỏi. Cũng nên xác nhận thêm rằng riêng chữ 孰, đọc いづれ hoặc たれ (izure, tare), cũng là từ để hỏi về sự lựa chọn.
Từ quan trọng
Câu 34 | 蓋 (kedashi)
Khi chữ 蓋 ở đầu câu được đọc là kedashi thì nghĩa nào là đúng?
Nếu đậy nắp lại
Ngay lập tức
Vì sao lại không làm điều đó
Thiết nghĩ, có lẽ là
Đáp ánD. Thiết nghĩ, có lẽ là
蓋し ở đầu câu là phó từ mở lời, nêu vấn đề kèm sắc thái suy đoán, nghĩa là thiết nghĩ, có lẽ. Đừng để bị kéo theo nghĩa thực của chữ này là cái nắp, che đậy. Ngoài ra 蓋 còn có cách dùng gần với lối đọc hai lần để khuyên mời, đọc là なんぞ〜ざる (nanzo ... zaru, sao không làm điều đó đi), giống hệt chữ 盍, và các trường tốp trên hay hỏi cách phân biệt theo mạch văn.
Câu 35 | 所以 (yuen)
Cách đọc và nghĩa nào của 所以 là đúng?
Đọc là yuen, diễn tả lý do hoặc phương tiện
Đọc là koko ni oite, dùng để chuyển cảnh
Đọc là tokoro motte, diễn tả nơi chốn
Đọc là kono yue ni, dùng để dẫn ra kết quả
Đáp ánA. Đọc là yuen, diễn tả lý do hoặc phương tiện
所以, đọc ゆゑん (yuen), là từ ghép quan trọng, diễn tả lý do, nguyên do làm việc gì, hoặc phương tiện để làm việc gì. Đọc tách rời 所 và 以 thành tokoro wo motte là sai. Vì đề trắc nghiệm quen thuộc là bắt phân biệt với 是以 (koko wo motte) dẫn ra kết quả và 於是 (koko ni oite) chuyển cảnh, nên hãy sắp xếp cả ba từ thành một bộ.
Câu 36 | 是以 (koko wo motte)
Cách đọc và chức năng nào của 是以 là đúng?
Đọc là ze wo motte, dùng để khẳng định lẽ phải
Đọc là koko wo motte, dẫn ra kết quả với nghĩa vì lẽ đó
Đọc là koko ni oite, dùng để chỉ nơi chốn
Đọc là kore igai, dùng để nêu ngoại lệ
Đáp ánB. Đọc là koko wo motte, dẫn ra kết quả với nghĩa vì lẽ đó
是以 đọc là ここをもって (koko wo motte), là từ nối tiếp nhận nội dung phía trước rồi dẫn ra kết quả, kết luận, nghĩa là vì lẽ đó, cho nên. Dạng 以是 cũng được dùng đồng nghĩa. Nó dễ lẫn cả về cách đọc lẫn chức năng với 於是, đọc koko ni oite nghĩa là thế rồi, nên đề hay hỏi sự tương ứng giữa trật tự chữ và từ dịch. Học chung bộ ba với 所以 (yuen) chỉ lý do là cách hiệu quả.
Câu 37 | 於是 (koko ni oite)
Cách đọc và nghĩa nào của 於是 là đúng?
Đọc là kore ni nanzo, dùng để diễn tả phản vấn
Đọc là kore yori, dùng để diễn tả so sánh
Đọc là koko ni oite, nghĩa là thế rồi, và dùng để chuyển cảnh
Đọc là koko wo motte, dùng để nêu lý do
Đáp ánC. Đọc là koko ni oite, nghĩa là thế rồi, và dùng để chuyển cảnh
於是 đọc là ここにおいて (koko ni oite), là từ nối đưa câu chuyện sang cảnh tiếp theo, nghĩa là thế rồi, thế là. Lẫn với 是以, đọc koko wo motte nghĩa là cho nên, chính là cái bẫy hay gặp nhất; hãy phân biệt bằng chức năng: 於是 là chuyển cảnh, còn 是以 là nhân quả. Nó cũng là dấu mốc để nắm mạch triển khai của các bài tự sự nên rất quan trọng cả về mặt đọc hiểu.
Câu 38 | Khuôn dìm rồi nâng
Cú pháp và nội dung nào của 死馬且買之、況生者乎, đọc là shiba sura katsu kore wo kau, iwanya ikeru mono woya, là đúng?
Là khuôn so sánh, nghĩa là ngựa sống đắt hơn ngựa chết
Là khuôn phản vấn, nghĩa là quyết không mua thứ như ngựa chết
Là khuôn giả định, nghĩa là nếu mua ngựa chết thì cũng có được ngựa sống
Là khuôn dìm rồi nâng, nghĩa là ngựa chết còn mua thì ngựa sống lại càng mua
Đáp ánD. Là khuôn dìm rồi nâng, nghĩa là ngựa chết còn mua thì ngựa sống lại càng mua
Khuôn A且すら〜、況んやBをや là lối dìm rồi nâng: nêu trước cái A ở mức thấp để hạ xuống, rồi nhấn mạnh rằng với B thì càng phải như vậy. Điểm mấu chốt là ở phần 況んや〜をや người ta không lặp lại vị ngữ, nên khi dịch phải tự bổ sung ý càng phải như thế. Nhận ra được sự hô ứng giữa すら, 且つ và 況んや hay không sẽ tạo ra khoảng cách; đây là cú pháp quan trọng bậc nhất, hay gặp cả ở tự luận lẫn trắc nghiệm. Đừng hiểu nhầm chữ をや ở cuối câu thành câu hỏi.
Câu 39 | Khuôn thêm chồng
Cú pháp nào của 不啻聡明、亦有徳, đọc là tada ni somei naru nomi narazu, mata toku ari, là đúng?
Là khuôn dìm rồi nâng, nghĩa là chỉ cần thông tuệ thì không cần đức
Là khuôn giới hạn, nghĩa là chỉ thông tuệ mà thôi
Là khuôn thêm chồng, nghĩa là không chỉ thông tuệ mà còn có đức
Là khuôn phủ định, nghĩa là chẳng thông tuệ mà cũng chẳng có đức
Đáp ánC. Là khuôn thêm chồng, nghĩa là không chỉ thông tuệ mà còn có đức
Dạng 不啻〜, đọc ただに〜のみならず (tada ni ... nomi narazu), là khuôn thêm chồng: phủ định chữ giới hạn 啻, cũng như 唯 và 独, để nói rằng không chỉ có thế mà còn thêm nữa. Khác biệt với khuôn giới hạn 唯だ〜のみ có thể phán đoán máy móc bằng việc phía trên có từ phủ định hay không. Các dạng 非独〜 và 不唯〜 cũng cùng một khuôn. Phân biệt giới hạn với thêm chồng là chỗ tạo khoảng cách rất hay gặp, và bỏ sót từ phủ định sẽ dẫn tới mất điểm chí mạng.
Câu 40 | Khuôn giới hạn
Cú pháp nào của 唯有一人, đọc là tada ichinin aru nomi, là đúng?
Là khuôn phản vấn, nghĩa là không đời nào lại có một người
Là khuôn giới hạn, nghĩa là chỉ có một người mà thôi
Là khuôn thêm chồng, nghĩa là không chỉ một người mà có rất nhiều
Là khuôn bị động, nghĩa là bị một người làm cho
Đáp ánB. Là khuôn giới hạn, nghĩa là chỉ có một người mà thôi
Dạng 唯〜のみ, cũng viết bằng 惟, 只 hay 独, là khuôn giới hạn, giới hạn phạm vi với nghĩa chỉ có thế mà thôi. Khuôn khi viết kakikudashi là bổ sung chữ のみ (nomi) ở cuối câu, và các chữ 耳, 已, 爾 cũng được đọc là nomi ở cuối câu. Vì hễ phía trên thêm 不 hay 非 thì nó chuyển thành khuôn thêm chồng, nên tập thói quen kiểm tra có hay không có từ phủ định sẽ giúp tránh mất điểm.
Luyện tập: giải các câu hỏi trên trang này
Đây là công cụ luyện tập với câu hỏi ngẫu nhiên (hoạt động khi JavaScript được bật). Bạn vẫn có thể đọc toàn bộ câu hỏi và phần giải thích ở trên.
* Tài liệu dùng để ôn tập nội dung học ở bậc THPT. Nếu cách viết hoặc cách trình bày khác với sách giáo khoa hay hướng dẫn của trường, hãy ưu tiên sách giáo khoa và lời giảng của giáo viên.
Trang này là bản dịch từ nguyên bản tiếng Nhật. Nếu nội dung bản dịch và nguyên bản khác nhau, bản tiếng Nhật sẽ được ưu tiên. Xem nguyên bản tiếng Nhật