Đây là bốn bài toán đố mà bài nào cũng ra đáp số chỉ với một phép tính. Bài nào có cấu trúc lời giải khác ba bài còn lại?
Có 1000 yên trong người, mua một hộp cơm giá 380 yên. Còn lại bao nhiêu tiền?
Mua 6 cái bánh mì, mỗi cái 80 yên. Tổng số tiền là bao nhiêu?
Phòng học có 45 chỗ, hiện đã có 28 người ngồi. Còn ngồi thêm được bao nhiêu người?
Cuốn sách dày 300 trang, tính đến hôm qua đã đọc được 120 trang. Còn lại bao nhiêu trang?
Đáp ánB. Mua 6 cái bánh mì, mỗi cái 80 yên. Tổng số tiền là bao nhiêu?
Số trang sách còn lại, số tiền còn lại sau khi mua hộp cơm và số người còn ngồi thêm được, cả ba đều giải bằng một phép trừ theo dạng toàn thể trừ đi bộ phận: 300−120=180 trang, 1000−380=620 yên, 45−28=17 người. Riêng bài bánh mì là phép nhân theo dạng lượng của một đơn vị nhân số đơn vị, 80×6=480 yên, nên khác kiểu. Đừng nhìn đề tài hay độ lớn của các con số, chỉ nhìn dấu phép tính và vai trò của từng số.
Câu 2 | Nhân hay chia
Ta chỉ lập phép tính chứ không tính ra đáp số. Trong bốn bài sau, bài nào có dạng phép tính khác ba bài kia?
Mua 5 hộp trứng, mỗi hộp đựng 12 quả thì tất cả có bao nhiêu quả trứng?
Mua 7 chai nước ngọt, mỗi chai 120 yên thì hết bao nhiêu tiền?
Ô tô chạy với vận tốc 60 km/giờ trong 3 giờ thì đi được bao nhiêu km?
Chia đều 84 tờ giấy màu cho 7 người thì mỗi người được mấy tờ?
Đáp ánD. Chia đều 84 tờ giấy màu cho 7 người thì mỗi người được mấy tờ?
Nước ngọt, ô tô và trứng đều là phép nhân theo dạng lượng của một đơn vị nhân số đơn vị: 120×7=840 yên, 60×3=180 km, 12×5=60 quả. Vận tốc 60 km/giờ chính là lượng ứng với một giờ, nên bài quãng đường cũng nằm trong cùng một dạng. Riêng bài giấy màu là phép chia theo dạng toàn thể chia cho số phần, 84÷7=12 tờ, nên khác dạng với ba bài nhân kia.
Câu 3 | Chia đều hay chia thành phần
Cả bốn bài đều ra đáp số bằng phép chia, nhưng ý nghĩa của phép chia thì không giống nhau. Bài nào có ý nghĩa khác ba bài còn lại?
Bốn người cùng góp đều nhau cho đủ 540 yên. Mỗi người góp bao nhiêu?
Rót đều 72 L nước vào 6 bể. Mỗi bể được bao nhiêu L?
Cắt sợi ruy băng dài 150 cm thành từng đoạn 25 cm. Được mấy đoạn?
Chia đều 96 viên kẹo cho 8 người. Mỗi người được mấy viên?
Đáp ánC. Cắt sợi ruy băng dài 150 cm thành từng đoạn 25 cm. Được mấy đoạn?
Kẹo, nước và tiền đều là phép chia đều theo dạng toàn thể chia cho số phần bằng lượng của một phần: 96÷8=12 viên, 72÷6=12 L, 540÷4=135 yên. Đơn vị của đáp số vẫn là viên, L, yên, tức giữ nguyên đơn vị của toàn thể. Riêng ruy băng là phép chia theo dạng toàn thể chia cho lượng của một đơn vị bằng số đơn vị: 150÷25=6 đoạn, và đơn vị của đáp số đổi thành đoạn. Chỗ phân ranh là số chia đóng vai trò số phần hay lượng của một đơn vị.
Câu 4 | Dạng bài hỏi được mấy phần
Trong các bài sau, ba bài là hỏi được mấy phần. Chỉ một bài hỏi thứ khác. Đó là bài nào?
Xếp mỗi đĩa 4 viên thì 36 viên bánh takoyaki được mấy đĩa?
Chia cho 5 người thì 95 viên bi mỗi người được mấy viên?
Phát cho mỗi người 7 tấm thì 63 tấm thẻ phát được cho mấy người?
Cắt thành từng đoạn 3 m thì sợi dây thừng 24 m được mấy đoạn?
Đáp ánB. Chia cho 5 người thì 95 viên bi mỗi người được mấy viên?
Dây thừng, bánh takoyaki và thẻ đều là phép chia theo dạng toàn thể chia cho lượng của một đơn vị bằng số đơn vị: 24÷3=8 đoạn, 36÷4=9 đĩa, 63÷7=9 người. Đáp số đều là một số lượng đơn vị. Riêng bài viên bi là phép chia đều theo dạng toàn thể chia cho số phần bằng lượng một phần, 95÷5=19 viên. Cùng một phép chia nhưng số chia là lượng của một đơn vị hay là số người thì dạng bài đã khác.
Câu 5 | Tìm phần còn lại
"Bể nước đầy chứa được 500 L, hiện đang có 180 L. Còn đổ thêm được bao nhiêu L?" Bài nào có cấu trúc lời giải giống bài này?
Mua 4 cái bánh kem, mỗi cái 150 yên thì hết bao nhiêu tiền?
Trong quãng đường 12 km đã đi bộ được 5 km. Còn lại bao nhiêu km?
Chuẩn bị 7 túi bút, mỗi túi 6 cây thì có bao nhiêu cây bút?
Xe buýt chạy 40 km/giờ trong 2 giờ thì đi được bao nhiêu km?
Đáp ánB. Trong quãng đường 12 km đã đi bộ được 5 km. Còn lại bao nhiêu km?
Bài mẫu lấy dung tích đầy trừ đi lượng đang có, tức dạng toàn thể trừ bộ phận: 500−180=320 L. Cùng dạng đó là bài quãng đường, 12−5=7 km. Ba bài còn lại đều là phép nhân theo dạng lượng của một đơn vị nhân số đơn vị: 150×4=600 yên, 6×7=42 cây, 40×2=80 km. Đề tài thì mỗi bài một kiểu là nước, quãng đường, bánh kem, bút và xe buýt, nhưng xét theo cấu trúc thì chỉ bài quãng đường mới cùng nhóm với bài mẫu.
Câu 6 | Phép nhân với tỉ lệ
Đây là bốn bài dùng tỉ lệ. Hãy chọn bài có dạng phép tính khác ba bài kia.
Hội trường 200 chỗ đã đầy 7 phần mười. Có bao nhiêu người đến dự?
Mua món hàng giá niêm yết 800 yên với mức giảm 3 phần mười. Số tiền được giảm là bao nhiêu?
Số học sinh nữ là 160 người, chiếm 4 phần mười số học sinh của một trường. Trường đó có tất cả bao nhiêu học sinh?
Đã dùng hết 2 phần mười khối đất sét nặng 1500 g. Phần đã dùng nặng bao nhiêu g?
Đáp ánC. Số học sinh nữ là 160 người, chiếm 4 phần mười số học sinh của một trường. Trường đó có tất cả bao nhiêu học sinh?
Số tiền được giảm, số người đến dự và phần đất sét đã dùng đều là phép nhân, vì đã biết lượng gốc rồi lấy lượng gốc nhân tỉ lệ: 800×0,3=240 yên, 200×0,7=140 người, 1500×0,2=300 g. Riêng bài số học sinh thì đi ngược lại, từ 160 người ứng với tỉ lệ mà tìm ra lượng gốc, thành phép chia 160÷0,4=400 người. Việc đã biết lượng gốc hay chưa quyết định nhân hay chia.
Câu 7 | Tìm lượng gốc
Có ba bài yêu cầu tìm lượng gốc và một bài thì không. Bài không phải là bài nào?
Có 150 học sinh đi học bằng xe đạp, chiếm 25% toàn trường. Toàn trường có bao nhiêu học sinh?
Đã rút 96 L nước, bằng 8 phần mười lượng nước trong bể. Lúc đầu bể có bao nhiêu L nước?
Tiền lãi 600 yên chiếm 3 phần mười giá bán của một món hàng. Giá bán là bao nhiêu?
Số tiền bằng 45% của 1200 yên là bao nhiêu?
Đáp ánD. Số tiền bằng 45% của 1200 yên là bao nhiêu?
Giá bán, số học sinh toàn trường và lượng nước ban đầu đều là phép chia theo dạng lượng ứng với tỉ lệ chia cho tỉ lệ bằng lượng gốc: 600÷0,3=2000 yên, 150÷0,25=600 người, 96÷0,8=120 L. Bài còn lại thì lượng gốc 1200 yên đã biết sẵn, chỉ cần tìm phần ứng với 45%, tức lấy lượng gốc nhân tỉ lệ: 1200×0,45=540 yên. Cái phải tìm là lượng gốc hay là bộ phận sẽ quyết định dạng bài.
Câu 8 | Bài mẫu phép nhân
"Chở 9 bao cát, mỗi bao 2 kg thì tất cả được bao nhiêu kg cát?" Bài nào giải được bằng cùng một cấu trúc với bài này?
Chia cuộn băng dính dài 180 cm thành từng đoạn 20 cm thì được mấy đoạn?
Mỗi ngày đọc 25 trang thì cuốn sách 300 trang đọc mấy ngày thì xong?
Mỗi ghế ngồi 3 người thì 45 người cần mấy chiếc ghế?
Phát cho mỗi người 4 tờ thì để phát cho 11 người cần bao nhiêu tờ?
Đáp ánD. Phát cho mỗi người 4 tờ thì để phát cho 11 người cần bao nhiêu tờ?
Bài mẫu là dạng lượng của một đơn vị nhân số đơn vị, 2×9=18 kg. Cùng dạng đó là bài phát giấy, 4×11=44 tờ. Ba bài còn lại đều là phép chia theo dạng toàn thể chia cho lượng của một đơn vị bằng số đơn vị: 180÷20=9 đoạn, 45÷3=15 ghế, 300÷25=12 ngày. Bài nào cũng có lượng ứng với một đơn vị, nhưng đem nhân nó lên hay đem toàn thể chia cho nó mới là chỗ tách cấu trúc.
Câu 9 | Dạng bài về vận tốc
Trong bốn bài về vận tốc sau, bài nào hỏi thứ khác ba bài còn lại?
Tàu chạy 15 m/giây thì đi hết 450 m mất mấy giây?
Đi bộ với vận tốc 80 m/phút thì quãng đường 1200 m mất mấy phút?
Xe chạy 50 km/giờ trong 2 giờ thì đi được bao nhiêu km?
Đi bộ với vận tốc 4 km/giờ thì quãng đường 12 km mất mấy giờ?
Đáp ánC. Xe chạy 50 km/giờ trong 2 giờ thì đi được bao nhiêu km?
Trong ba đại lượng quãng đường, vận tốc và thời gian, thì ba bài đi bộ, đi 80 m/phút và tàu đều là phép chia theo dạng quãng đường chia vận tốc bằng thời gian, tức hỏi thời gian: 12÷4=3 giờ, 1200÷80=15 phút, 450÷15=30 giây. Riêng bài xe hơi là phép nhân theo dạng vận tốc nhân thời gian bằng quãng đường, tức hỏi quãng đường, 50×2=100 km. Bài về vận tốc đổi dạng tùy theo trong ba đại lượng ấy ta phải tìm cái nào.
Câu 10 | Chia ra cái gì
Cả bốn bài đều giải được bằng một phép chia, nhưng chỉ một bài hỏi thứ khác. Đó là bài nào?
Người chạy 1200 m trong 8 phút thì vận tốc là bao nhiêu m/phút?
Đi với vận tốc 6 km/giờ thì quãng đường 18 km mất mấy giờ?
Người đi bộ 600 m trong 5 phút thì vận tốc là bao nhiêu m/phút?
Ô tô chạy 150 km trong 3 giờ thì vận tốc là bao nhiêu km/giờ?
Đáp ánB. Đi với vận tốc 6 km/giờ thì quãng đường 18 km mất mấy giờ?
Ba bài ô tô, 600 m và 1200 m đều theo dạng quãng đường chia thời gian bằng vận tốc: 150÷3=50 km/giờ, 600÷5=120 m/phút, 1200÷8=150 m/phút, cái phải tìm đều là vận tốc. Riêng bài 6 km/giờ theo dạng quãng đường chia vận tốc bằng thời gian, 18÷6=3 giờ, cái phải tìm là thời gian. Cùng một phép chia nhưng lấy gì chia cho gì lại khác nên thuộc nhóm khác.
Câu 11 | Dạng bài trung bình
Đây là bốn bài về số trung bình. Hãy chọn ra một bài có dạng phép tính khác các bài kia.
Tổng điểm 5 môn là 410 điểm. Trung bình mỗi môn được bao nhiêu điểm?
Có 12 quả trứng, trung bình mỗi quả 60 g. Tổng cộng bao nhiêu g?
Tổng chiều cao của 8 người là 1288 cm. Chiều cao trung bình là bao nhiêu cm?
Bốn ngày chạy tổng cộng 36 km. Trung bình mỗi ngày chạy bao nhiêu km?
Đáp ánB. Có 12 quả trứng, trung bình mỗi quả 60 g. Tổng cộng bao nhiêu g?
Điểm trung bình, số km trung bình mỗi ngày và chiều cao trung bình đều là phép chia theo dạng tổng chia số phần bằng trung bình: 410÷5=82 điểm, 36÷4=9 km, 1288÷8=161 cm. Riêng bài trứng thì đã biết sẵn số trung bình, nên là phép nhân theo dạng trung bình nhân số phần bằng tổng, 60×12=720 g. Thấy bài về trung bình thì đừng vội đóng đinh là phép chia, hãy xem cái gì đã biết và cái gì phải tìm.
Câu 12 | Dạng hai bước tính
Đây là bốn bài cần đến hai lần tính. Bài nào có kiểu thứ tự tính khác ba bài còn lại?
Từ 24 L sữa lấy dùng 4 L, phần còn lại rót đều vào 5 chai. Mỗi chai bao nhiêu L?
Mua 7 quả quýt, mỗi quả 90 yên, và đưa tờ 1000 yên. Tiền thối lại là bao nhiêu?
Cầm 500 yên đi mua quyển vở giá 120 yên, chỗ còn lại chia cho 4 người. Mỗi người được bao nhiêu?
Từ 60 viên kẹo, thầy giáo lấy đi 12 viên, phần còn lại chia đều cho 8 người. Mỗi người được mấy viên?
Đáp ánB. Mua 7 quả quýt, mỗi quả 90 yên, và đưa tờ 1000 yên. Tiền thối lại là bao nhiêu?
Kẹo, tiền và sữa đều theo kiểu trừ trước rồi chia sau: (60−12)÷8=6 viên, (500−120)÷4=95 yên, (24−4)÷5=4 L. Bài nào cũng lấy phép trừ ra phần còn lại trước rồi mới đem chia. Riêng bài quýt theo kiểu nhân trước rồi trừ sau, 1000−90×7=370 yên, tức tính tiền hàng bằng phép nhân trước rồi mới trừ. Bài hai bước thì nhóm nhau theo việc phép tính nào được làm trước.
Câu 13 | Dạng tổng và hiệu
Có bốn bài xử lý quan hệ giữa hai đại lượng. Bài nào có cấu trúc lời giải khác ba bài còn lại?
Tổng số tiền của anh và em là 3000 yên, anh nhiều hơn em 400 yên. Anh có bao nhiêu tiền?
Tổng khối lượng của A và B là 50 kg, A nặng hơn B 6 kg. A nặng bao nhiêu kg?
Một hình chữ nhật có tổng chiều dài và chiều rộng là 34 cm, chiều dài hơn chiều rộng 4 cm. Chiều dài là bao nhiêu cm?
Một cây bút giá 280 yên, một cục tẩy giá 120 yên. Chênh lệch giá là bao nhiêu?
Đáp ánD. Một cây bút giá 280 yên, một cục tẩy giá 120 yên. Chênh lệch giá là bao nhiêu?
Tiền, khối lượng và hình chữ nhật đều thuộc dạng cho biết tổng và hiệu rồi tìm số lớn, dùng công thức tổng cộng hiệu rồi chia đôi: (3000+400)÷2=1700 yên, (50+6)÷2=28 kg, (34+4)÷2=19 cm. Riêng bài bút và tẩy thì hai giá trị đã biết sẵn, chỉ cần một phép trừ 280−120=160 yên. Chỗ phân ranh là có phải khôi phục từng giá trị từ tổng và hiệu hay không.
Câu 14 | Được mấy đoạn
"Cắt sợi dây thừng 18 m thành từng đoạn 3 m thì được mấy đoạn?" Hãy chọn bài có cùng cấu trúc với bài này.
Chia đều 144 cái bánh quy cho 12 người thì mỗi người được mấy cái?
Mỗi xe chở 5 người thì để chở 40 người cần mấy xe?
Chia sợi dây 96 cm thành 6 phần bằng nhau thì mỗi phần dài bao nhiêu cm?
Sáu người góp đều nhau cho đủ 3000 yên thì mỗi người góp bao nhiêu?
Đáp ánB. Mỗi xe chở 5 người thì để chở 40 người cần mấy xe?
Bài mẫu là dạng toàn thể chia cho lượng của một đơn vị bằng số đơn vị, 18÷3=6 đoạn. Cùng dạng đó là bài xe, 40÷5=8 xe, và đáp số mang đơn vị đếm là chiếc xe. Ba bài còn lại là phép chia đều theo dạng toàn thể chia cho số phần bằng lượng một phần: 144÷12=12 cái, 96÷6=16 cm, 3000÷6=500 yên, đáp số vẫn giữ nguyên đơn vị của toàn thể.
Câu 15 | Quay về lượng gốc
"Đã đọc 96 trang, bằng 3 phần mười cả cuốn sách. Cả cuốn có bao nhiêu trang?" Bài nào có cùng cấu trúc với bài này?
Chi phí nhân công 28 vạn yên, bằng 4 phần mười doanh thu của một tháng. Doanh thu là bao nhiêu?
35% của một lớp 60 người là bao nhiêu người?
Bán món hàng giá niêm yết 2500 yên với mức giảm 2 phần mười thì số tiền được giảm là bao nhiêu?
Đã uống 15% chai nước ngọt 800 mL. Lượng đã uống là bao nhiêu mL?
Đáp ánA. Chi phí nhân công 28 vạn yên, bằng 4 phần mười doanh thu của một tháng. Doanh thu là bao nhiêu?
Bài mẫu theo dạng lượng ứng với tỉ lệ chia cho tỉ lệ bằng lượng gốc, 96÷0,3=320 trang. Cùng dạng đó là bài doanh thu, 28÷0,4=70 vạn yên. Ba bài còn lại đều đã biết sẵn lượng gốc, chỉ việc lấy lượng gốc nhân tỉ lệ: 2500×0,2=500 yên, 60×0,35=21 người, 800×0,15=120 mL. Hãy nhìn xem cái phải tìm là lượng gốc hay là bộ phận.
Câu 16 | Sự thật và phỏng đoán
Trong bốn câu sau, câu nào có cấu trúc lối trình bày khác ba câu còn lại?
Số khách đến tham quan năm ngoái ít hơn năm trước 1200 người.
Chủ nhật tuần trước, chợ phiên buổi sáng đã họp ở quảng trường trước ga.
Cứ đà này thì có lẽ sang tháng công trình sẽ xong.
Nhà máy này mỗi ngày chế tạo 3000 linh kiện.
Đáp ánC. Cứ đà này thì có lẽ sang tháng công trình sẽ xong.
Chợ phiên, nhà máy và số khách tham quan đều kết câu bằng lối khẳng định dứt khoát là đã họp, đang chế tạo, đã ít hơn, tức là thuật lại đúng sự việc đã xảy ra hoặc trạng thái hiện tại. Riêng câu về công trình đặt ở cuối câu một lối phỏng đoán, nói về chuyện phía trước còn chưa kiểm chứng được. Đề tài có khác nhau đến đâu thì chỉ cần nhìn cuối câu là khẳng định hay phỏng đoán là đã tách được nhóm.
Câu 17 | Câu nêu ý kiến
Nếu chia theo việc có xen phán đoán của người viết hay không thì có một câu lạc nhóm. Đó là câu nào?
Có lẽ nên rút ngắn thời gian họp so với bây giờ thì hơn.
Tôi nghĩ bãi gửi xe đạp trước ga nên được mở rộng hơn nữa.
Thời gian đọc sách của trẻ em cần phải được tăng lên nữa.
Lượng mưa hằng năm của vùng này khoảng 1500 mm.
Đáp ánD. Lượng mưa hằng năm của vùng này khoảng 1500 mm.
Bãi gửi xe, cuộc họp và thời gian đọc sách đều là câu nêu ý kiến, chứa phán đoán hay chủ trương của người viết qua các lối nói tôi nghĩ nên, có lẽ nên, cần phải. Riêng câu về lượng mưa chỉ nêu một con số bằng lối khẳng định, không có chỗ nào lọt vào suy nghĩ của người viết. Lối nói cần phải tuy kết câu bằng dạng khẳng định nhưng vẫn chứa từ chỉ sự nên làm nên vẫn thuộc phía ý kiến. Đừng chỉ nhìn dạng cuối câu, hãy xem có từ ngữ đánh giá hay bắt buộc lộ ra hay không.
Câu 18 | Chiều của quan hệ nhân quả
Hãy chú ý cách sắp xếp giữa nguyên nhân và kết quả. Câu nào có cách sắp xếp khác ba câu còn lại?
Vụ lúa năm nay mất mùa. Bởi vì mùa hè năm nay số giờ nắng quá ít.
Vì có tuyết rơi dày nên chuyến tàu buổi sáng đã dừng chạy.
Do không đặt được chỗ nên lịch trình chuyến đi đã bị dời lại.
Vì linh kiện không về kịp nên công đoạn lắp ráp bị chậm.
Đáp ánA. Vụ lúa năm nay mất mùa. Bởi vì mùa hè năm nay số giờ nắng quá ít.
Ba câu đặt nguyên nhân lên trước là tuyết rơi dày, không đặt được chỗ, linh kiện không về kịp, rồi nối bằng vì hoặc do mà nói kết quả ở sau, tức trật tự nguyên nhân rồi đến kết quả. Chỉ một câu đặt kết quả mất mùa lên trước và khẳng định dứt khoát, sau đó mới dùng cụm bởi vì để giải thích nguyên nhân, tức trật tự kết quả rồi đến nguyên nhân, ngược lại với ba câu kia.
Câu 19 | Lý do đặt phía sau
Vị trí ghi lý do trong các câu không đồng đều. Hãy chọn ra câu có vị trí khác các câu kia.
Anh ấy đã phản đối phương án đó. Bởi anh cho rằng dự trù kinh phí quá lạc quan.
Doanh thu đã tăng. Bởi mẩu quảng cáo mới đã đến được với lớp người trẻ.
Vì số lượt hỏi han tăng lên nên chỗ tiếp nhận đã tăng thêm người.
Hôm nay tôi ra khỏi nhà sớm hơn. Bởi hôm trước tôi đã thấy thông báo về việc thi công đường.
Đáp ánC. Vì số lượt hỏi han tăng lên nên chỗ tiếp nhận đã tăng thêm người.
Ba câu nói dứt một câu về kết quả hay hành động trước rồi mới thêm lý do phía sau bằng các cụm bởi, bởi vì, tức trật tự kết quả rồi đến nguyên nhân. Chỉ một câu đặt nguyên nhân là số lượt hỏi han tăng lên lên trước, nối bằng vì rồi mới nói kết quả, tức trật tự nguyên nhân rồi đến kết quả. Chỉ cần nhìn lý do nằm ở trước hay ở sau là đủ.
Câu 20 | Cùng một kiểu nối
"Vì đường tắc nên tôi đã đến chỗ hẹn muộn." Câu nào có cấu trúc lối trình bày giống câu này?
Địa điểm tổ chức đã được đổi. Bởi số người muốn tham dự đông hơn dự tính.
Tôi đã không mua cuốn sách đó. Bởi tôi đã mượn được ở thư viện rồi.
Do tài liệu về muộn nên giờ khai mạc cuộc họp đã bị dời lại 30 phút.
Anh ấy đã nghỉ buổi tập. Bởi hôm trước anh bị đau cổ chân.
Đáp ánC. Do tài liệu về muộn nên giờ khai mạc cuộc họp đã bị dời lại 30 phút.
Câu mẫu đặt nguyên nhân là đường tắc lên trước rồi nối sang kết quả, tức trật tự nguyên nhân rồi đến kết quả. Chỉ câu về tài liệu là cùng dạng, phần trước cụm do là nguyên nhân và phần sau là kết quả. Ba câu còn lại đều nói dứt kết quả trước rồi mới đặt lý do ra sau bằng cụm bởi, trật tự ngược lại.
Câu 21 | Khái quát và ví dụ
Chú ý vào phạm vi mà câu nói tới thì có một câu khác các câu kia. Câu nào?
Những năm gần đây, lớp trẻ ngày càng xa rời sách vở.
Ở các trường trung học phổ thông Nhật Bản, số trường dành thời gian buổi sáng cho việc đọc sách đang tăng lên.
Số người sử dụng thư viện đang có xu hướng giảm trên cả nước.
Chẳng hạn, ở trường trung học phổ thông tôi đang học, mỗi sáng đều có 10 phút đọc sách.
Đáp ánD. Chẳng hạn, ở trường trung học phổ thông tôi đang học, mỗi sáng đều có 10 phút đọc sách.
Các trường trung học phổ thông Nhật Bản, lớp trẻ và thư viện đều là những câu gộp nhiều đối tượng lại để nói về một xu hướng, tức là lời khái quát. Chỉ câu mở đầu bằng chẳng hạn là nêu một trường hợp riêng lẻ, ngôi trường tôi đang học, tức là ví dụ cụ thể. Nhóm được tách theo việc phạm vi nói tới là toàn thể hay chỉ một sự việc.
Câu 22 | Ví dụ hay toàn thể
Ta muốn chia bốn câu thành chuyện chung và trường hợp riêng lẻ. Câu nào lệch nhóm so với các câu kia?
Hiệu sách ở thị trấn bên mỗi tháng một lần lại tổ chức sự kiện mời tác giả tới.
Các cửa hiệu trong khu phố buôn bán đang có xu hướng mở cửa sớm hơn trước.
Chẳng hạn tiệm bánh mì trước ga mở cửa từ 7 giờ sáng.
Quán cà phê gần nhà tôi chỉ phục vụ bữa sáng vào ngày thường.
Đáp ánB. Các cửa hiệu trong khu phố buôn bán đang có xu hướng mở cửa sớm hơn trước.
Ba câu nêu đích danh một cửa hiệu là tiệm bánh mì trước ga, hiệu sách ở thị trấn bên, quán cà phê gần nhà, tức là các ví dụ cụ thể. Chỉ một câu gộp nhiều cửa hiệu lại bằng cụm các cửa hiệu trong khu phố buôn bán để nói về xu hướng, tức là lời khái quát. Manh mối nhận ra là thứ được nói tới là một trường hợp riêng lẻ hay là toàn thể.
Câu 23 | Câu có điều kiện
Hãy đọc bốn câu và chú ý cách nêu điều kiện. Chọn ra một câu có dạng khác các câu kia.
Cơ sở này lấy thứ Hai hằng tuần làm ngày nghỉ.
Nếu hết hàng thì việc đặt lấy hàng về sẽ mất một tuần.
Trường hợp trời mưa, trận đấu sẽ được dời sang tuần sau.
Nếu quên thẻ hội viên thì xin hãy ghi họ tên tại quầy tiếp nhận.
Đáp ánA. Cơ sở này lấy thứ Hai hằng tuần làm ngày nghỉ.
Ba câu dùng các lối nói trường hợp, nếu thì, nếu không có, để nêu ra điều chỉ xảy ra khi một việc nào đó thành hiện thực, tức là câu có điều kiện. Chỉ một câu không có từ ngữ nêu điều kiện nào cả, nó khẳng định dứt khoát một điều luôn đúng, tức là lời giải thích vô điều kiện. Chỉ cần nhìn có từ chỉ điều kiện hay không là đủ.
Câu 24 | Câu vô điều kiện
Có ba câu nói về điều lúc nào cũng đúng và một câu thì không. Câu không phải là câu nào?
Phí vào cửa của cơ sở này là 500 yên đối với người lớn.
Chuyến tàu này dừng ở tất cả các ga cho tới ga cuối.
Cửa hàng chúng tôi mở cửa quanh năm, không có ngày nghỉ cố định.
Người dưới 18 tuổi nếu có sự đồng ý của người giám hộ thì được sử dụng.
Đáp ánD. Người dưới 18 tuổi nếu có sự đồng ý của người giám hộ thì được sử dụng.
Ba câu không mang từ ngữ nêu điều kiện nào, chúng khẳng định dứt khoát như những điều luôn đúng, tức là câu vô điều kiện. Chỉ một câu đặt điều kiện nếu có sự đồng ý và nói về điều chỉ thành lập khi điều kiện đó được thỏa mãn. Nội dung có quan trọng hay câu có dài hay không đều không liên quan, chỉ có việc có mệnh đề điều kiện hay không mới tách nhóm.
Câu 25 | Bài mẫu về điều kiện
"Nếu nhiệt độ vượt quá 30 độ thì công việc ngoài trời sẽ tạm dừng." Câu nào có cấu trúc giống câu này?
Tờ đơn này được phát tại quầy.
Trường hợp đã đủ số người, việc tiếp nhận sẽ được đóng lại.
Hôm nay cửa hàng mở đến 6 giờ chiều.
Bãi đỗ xe nằm ở phía sau tòa nhà.
Đáp ánB. Trường hợp đã đủ số người, việc tiếp nhận sẽ được đóng lại.
Câu mẫu nêu điều kiện bằng lối nói nếu thì, và nói về điều chỉ xảy ra khi điều kiện ấy thành lập. Cùng dạng đó chỉ có câu đặt điều kiện trường hợp đã đủ số người. Ba câu còn lại không có từ ngữ nêu điều kiện, chúng khẳng định dứt khoát về giờ mở cửa, nơi phát đơn và vị trí bãi đỗ xe, tức là lời giải thích vô điều kiện.
Câu 26 | Ý định và nhờ vả
Có thể chia theo việc người thực hiện hành động là người viết hay người đọc. Câu nào khác ba câu còn lại?
Tôi định giảm 5 kg cân nặng trước khi hè tới.
Xin hãy nhận tờ đơn tại quầy tiếp nhận.
Năm sau nhất định tôi muốn thử sức với kỳ thi lấy chứng chỉ.
Kỳ nghỉ tới tôi nghĩ mình sẽ về quê.
Đáp ánB. Xin hãy nhận tờ đơn tại quầy tiếp nhận.
Ba câu dùng các lối nói tôi muốn, tôi định, tôi nghĩ mình sẽ, tức là nói về điều chính người viết sắp làm, thuộc loại câu nêu ý định hay mong muốn. Chỉ một câu kết bằng lời mời gọi xin hãy, và người thực hiện hành động là người đọc chứ không phải người viết, tức là câu nhờ vả. Hãy nhìn xem đó là câu mà ai sẽ hành động.
Câu 27 | Yêu cầu người đọc
Có ba câu yêu cầu người đọc làm gì đó lẫn trong nhóm. Câu không yêu cầu gì là câu nào?
Trước khi nộp xin hãy kiểm tra xem có bỏ sót mục nào không.
Tôi đang tính từ tháng sau sẽ đi làm bằng xe đạp.
Dùng xong phải để lại đúng chỗ cũ.
Trong hội trường xin vui lòng tắt nguồn điện thoại di động.
Đáp ánB. Tôi đang tính từ tháng sau sẽ đi làm bằng xe đạp.
Ba câu dùng các lối xin hãy, xin vui lòng, phải, tức là câu nhờ vả hoặc chỉ thị, yêu cầu người đọc hành động. Chỉ một câu nói về dự định của chính người viết, thuộc loại câu nêu ý định, và không đòi hỏi gì ở người đọc. Chỉ cần xem cuối câu có phải dạng nhờ vả hay mệnh lệnh hay không là tách được ngay.
Câu 28 | Trình tự và đối chiếu
Hãy xem hai sự việc trong câu được đặt cạnh nhau như thế nào. Câu nào có cách đặt khác các câu kia?
Đầu tiên phác thảo toàn bộ, sau đó mới tô màu.
Anh thì giỏi viết văn, còn em thì tính toán nhanh hơn.
Trước hết vo gạo, tiếp đó ngâm nước chừng 30 phút.
Trước tiên thái nguyên liệu, tiếp theo xào trong chảo.
Đáp ánB. Anh thì giỏi viết văn, còn em thì tính toán nhanh hơn.
Ba câu dùng các cặp trước hết rồi tiếp đó, đầu tiên rồi sau đó, trước tiên rồi tiếp theo, đặt hai hành động của cùng một người theo trật tự thời gian, tức là câu chỉ trình tự. Chỉ một câu lấy hai đối tượng khác nhau là anh và em rồi dùng chữ còn để chỉ ra chỗ khác nhau, tức là câu đối chiếu, và nó không nói gì về trước sau theo thời gian.
Câu 29 | Câu đối chiếu
Có ba câu đang so sánh hai đối tượng. Câu không so sánh là câu nào?
Cửa hàng này hàng hóa thì phong phú, nhưng giá lại hơi cao.
Tôi viết địa chỉ lên phong bì, sau đó dán tem.
Công ty A mạnh ở trong nước, còn công ty B thì doanh thu ở nước ngoài lớn hơn.
Mùa hè năm ngoái mưa nhiều, còn năm nay thì hầu như không mưa.
Đáp ánB. Tôi viết địa chỉ lên phong bì, sau đó dán tem.
Ba câu về hàng hóa với giá cả, công ty A với công ty B, năm ngoái với năm nay đều dùng chữ nhưng hoặc chữ còn để đặt hai sự việc cạnh nhau và chỉ ra chỗ khác nhau, tức là câu đối chiếu. Riêng câu về phong bì dùng cụm sau đó để đặt hai hành động theo trật tự thời gian, không hề so sánh gì.
Câu 30 | Bài mẫu về đối chiếu
"Dụng cụ này thì nhẹ, nhưng độ bền lại không cao lắm." Câu nào có cấu trúc lối trình bày giống câu này?
Cuốn từ điển điện tử này số từ thu thập thì nhiều, nhưng tốc độ hoạt động lại hơi chậm.
Vì thiếu linh kiện nên việc sản xuất đã tạm dừng.
Do bão đến gần nên sự kiện đã bị hủy.
Vì đường đóng băng nên đã mất nhiều thời gian hơn mọi khi.
Đáp ánA. Cuốn từ điển điện tử này số từ thu thập thì nhiều, nhưng tốc độ hoạt động lại hơi chậm.
Câu mẫu nối một ưu điểm là nhẹ với một nhược điểm là độ bền không cao bằng chữ nhưng, đặt cạnh nhau hai mặt của cùng một vật để so, tức là câu đối chiếu. Cùng dạng đó là câu về từ điển điện tử, đặt cạnh nhau hai mặt là số từ thu thập và tốc độ hoạt động. Ba câu còn lại đều dùng vì hoặc do để nối nguyên nhân với kết quả, tức là câu nhân quả, không hề so sánh.
Luyện tập: giải các câu hỏi trên trang này
Đây là công cụ luyện tập với câu hỏi ngẫu nhiên (hoạt động khi JavaScript được bật). Bạn vẫn có thể đọc toàn bộ câu hỏi và phần giải thích ở trên.
* Lời giải là thông tin phục vụ việc học. Phạm vi ra đề và chế độ thi có thể thay đổi theo từng năm, vì vậy hãy luôn kiểm tra thông báo chính thức của đơn vị tổ chức thi.
Trang này là bản dịch từ nguyên bản tiếng Nhật. Nếu nội dung bản dịch và nguyên bản khác nhau, bản tiếng Nhật sẽ được ưu tiên. Xem nguyên bản tiếng Nhật