Trong số các mô tả về giấy phép kinh doanh bán thuốc, đâu là mô tả đúng?
Giấy phép kinh doanh bán thuốc được chia thành 4 loại: hiệu thuốc, kinh doanh cửa hàng bán thuốc, kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà và kinh doanh bán buôn thuốc.
Người đã nhận giấy phép kinh doanh bán buôn thuốc được công nhận có thể bán trực tiếp thuốc cho người dân thông thường trong hoạt động kinh doanh.
Giấy phép kinh doanh bán thuốc được chia thành 3 loại: giấy phép kinh doanh cửa hàng bán thuốc, giấy phép kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà hoặc giấy phép kinh doanh bán buôn thuốc.
Để hiệu thuốc bán thuốc, ngoài giấy phép mở hiệu thuốc, còn phải nhận riêng giấy phép kinh doanh bán thuốc.
Đáp ánC. Giấy phép kinh doanh bán thuốc được chia thành 3 loại: giấy phép kinh doanh cửa hàng bán thuốc, giấy phép kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà hoặc giấy phép kinh doanh bán buôn thuốc.
Theo Guide, giấy phép kinh doanh bán thuốc được chia thành 3 loại: kinh doanh cửa hàng bán thuốc, kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà, kinh doanh bán buôn thuốc (Điều 25 của Luật). Hiệu thuốc không thuộc các loại giấy phép kinh doanh bán thuốc, vì hành vi bán thuốc tại hiệu thuốc là hành vi đi kèm với nghiệp vụ của hiệu thuốc nên không cần giấy phép kinh doanh bán thuốc riêng. Ngoài ra, người kinh doanh bán buôn thuốc không được công nhận bán trực tiếp thuốc cho người dân thông thường trong hoạt động kinh doanh.
Câu 2 | Gia hạn giấy phép
Trong số các mô tả về kinh doanh bán thuốc v.v., đâu là mô tả SAI?
Người mở hiệu thuốc hoặc cơ sở kinh doanh cửa hàng bán thuốc không được bán v.v. thuốc bằng phương pháp nào khác ngoài việc bán hoặc chuyển giao tại cửa hàng.
Giấy phép mở hiệu thuốc hoặc giấy phép kinh doanh bán thuốc sẽ mất hiệu lực sau khi hết thời hạn nếu không được gia hạn cứ mỗi 5 năm.
Chỉ những người đã nhận giấy phép kinh doanh cửa hàng bán thuốc và kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà mới có thể bán v.v. thuốc cho người dân thông thường.
Nếu không phải người mở hiệu thuốc hoặc người đã nhận giấy phép kinh doanh bán thuốc, thì không được bán, chuyển giao, hoặc lưu trữ, trưng bày thuốc với mục đích bán hoặc chuyển giao trong hoạt động kinh doanh.
Đáp ánB. Giấy phép mở hiệu thuốc hoặc giấy phép kinh doanh bán thuốc sẽ mất hiệu lực sau khi hết thời hạn nếu không được gia hạn cứ mỗi 5 năm.
Việc gia hạn không phải cứ mỗi 5 năm mà là cứ mỗi 6 năm, nếu không được gia hạn thì sẽ mất hiệu lực sau khi hết thời hạn (Điều 24 khoản 2 của Luật), nên đây là phương án sai. Việc cấm kinh doanh bán thuốc khi chưa có giấy phép (Điều 24 khoản 1 của Luật), việc chỉ có cơ sở kinh doanh cửa hàng bán thuốc và kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà mới được bán cho người dân thông thường, và việc cấm bán bằng phương pháp khác ngoài bán tại cửa hàng (Điều 37 khoản 1 của Luật), đều đúng theo Guide.
Câu 3 | Hiệu thuốc
Trong số các mô tả về hiệu thuốc, đâu là mô tả đúng?
Ngoài thuốc kê đơn, hiệu thuốc có thể xử lý cả thuốc cần hướng dẫn sử dụng và thuốc không kê đơn.
Giấy phép mở hiệu thuốc do Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi cấp.
Dù không nhận giấy phép mở hiệu thuốc, chỉ cần là nơi xử lý thuốc thì vẫn có thể đặt tên là hiệu thuốc.
Hiệu thuốc thực hiện việc điều chế thuốc theo đơn không được xếp vào cơ sở cung cấp dịch vụ y tế.
Đáp ánA. Ngoài thuốc kê đơn, hiệu thuốc có thể xử lý cả thuốc cần hướng dẫn sử dụng và thuốc không kê đơn.
Theo Guide, ngoài thuốc kê đơn, hiệu thuốc có thể xử lý cả thuốc cần hướng dẫn sử dụng và thuốc không kê đơn (OTC). Hiệu thuốc thực hiện việc điều chế thuốc theo đơn cũng được xếp vào cơ sở cung cấp dịch vụ y tế, nên phương án 1 sai. Nơi chưa nhận giấy phép mở hiệu thuốc, trừ nơi điều chế thuốc của bệnh viện hoặc phòng khám, không được đặt tên là hiệu thuốc (Điều 6 của Luật). Giấy phép mở hiệu thuốc không phải do Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi mà do Thống đốc tỉnh, thành phố nơi có hiệu thuốc (thị trưởng đối với thành phố có trạm y tế, trưởng khu đối với khu đặc biệt) cấp (Điều 4 khoản 1 của Luật).
Câu 4 | Kinh doanh cửa hàng bán thuốc
Trong số các mô tả về kinh doanh cửa hàng bán thuốc, đâu là mô tả đúng?
Giấy phép kinh doanh cửa hàng bán thuốc do Thống đốc tỉnh, thành phố nơi có cửa hàng đó cấp cho từng cửa hàng (thị trưởng hoặc trưởng khu nếu nơi có cửa hàng thuộc khu vực thành phố có trạm y tế hoặc khu đặc biệt).
Tại cửa hàng kinh doanh cửa hàng bán thuốc, nếu có dược sĩ làm việc thì có thể thực hiện điều chế thuốc theo đơn giống như hiệu thuốc.
Ngay cả khi cửa hàng đó không có dược sĩ, Người bán thuốc đăng ký vẫn có thể bán hoặc chuyển giao thuốc cần hướng dẫn sử dụng.
Người đã nhận giấy phép kinh doanh cửa hàng bán thuốc được quy định là có thể bán mọi loại thuốc, bao gồm cả thuốc cần hướng dẫn sử dụng, thuốc không kê đơn (OTC), và cả thuốc kê đơn được sử dụng theo đơn của bác sĩ hoặc nha sĩ.
Đáp ánA. Giấy phép kinh doanh cửa hàng bán thuốc do Thống đốc tỉnh, thành phố nơi có cửa hàng đó cấp cho từng cửa hàng (thị trưởng hoặc trưởng khu nếu nơi có cửa hàng thuộc khu vực thành phố có trạm y tế hoặc khu đặc biệt).
Giấy phép kinh doanh cửa hàng bán thuốc do Thống đốc tỉnh, thành phố v.v. nơi có cửa hàng cấp cho từng cửa hàng (Điều 26 khoản 1 của Luật), nên đúng. Khác với hiệu thuốc, kinh doanh cửa hàng bán thuốc dù có dược sĩ làm việc cũng không thể thực hiện điều chế thuốc theo đơn, và không được bán thuốc nào khác ngoài thuốc cần hướng dẫn sử dụng hoặc thuốc không kê đơn (OTC) (Điều 27 của Luật). Ngoài ra, thuốc cần hướng dẫn sử dụng phải để dược sĩ bán hoặc chuyển giao (Điều 36-5 khoản 1 của Luật), Người bán thuốc đăng ký không thể bán.
Câu 5 | Người quản lý cửa hàng
Trong số các mô tả về người quản lý cửa hàng của kinh doanh cửa hàng bán thuốc, đâu là mô tả SAI?
Người quản lý cửa hàng phải trình bày ý kiến cần thiết bằng văn bản với người kinh doanh cửa hàng bán thuốc để không gây trở ngại về vệ sinh sức khỏe.
Người quản lý cửa hàng của cửa hàng bán hoặc chuyển giao thuốc không kê đơn Nhóm 2 hoặc Nhóm 3 phải là dược sĩ.
Người quản lý cửa hàng của cửa hàng bán hoặc chuyển giao thuốc cần hướng dẫn sử dụng hoặc thuốc không kê đơn Nhóm 1, về nguyên tắc phải là dược sĩ.
Tại cửa hàng bán hoặc chuyển giao thuốc không kê đơn Nhóm 1, trong trường hợp không thể để dược sĩ làm người quản lý cửa hàng, khi để Người bán thuốc đăng ký đáp ứng các điều kiện quy định làm người quản lý cửa hàng, thì phải bố trí dược sĩ hỗ trợ người quản lý cửa hàng.
Đáp ánB. Người quản lý cửa hàng của cửa hàng bán hoặc chuyển giao thuốc không kê đơn Nhóm 2 hoặc Nhóm 3 phải là dược sĩ.
Theo Điều 140 khoản 1 của Quy tắc thi hành, người quản lý cửa hàng của cửa hàng bán hoặc chuyển giao thuốc không kê đơn Nhóm 2 hoặc Nhóm 3 được quy định là "dược sĩ hoặc Người bán thuốc đăng ký", không giới hạn ở dược sĩ, nên đây là phương án sai. Người quản lý cửa hàng của cửa hàng bán thuốc cần hướng dẫn sử dụng hoặc thuốc không kê đơn Nhóm 1 được quy định là dược sĩ. Việc trình bày ý kiến bằng văn bản của người quản lý cửa hàng (Điều 29 của Luật), việc bố trí dược sĩ hỗ trợ khi để Người bán thuốc đăng ký làm quản lý cửa hàng Nhóm 1 (Điều 141 của Quy tắc thi hành) đều đúng theo Guide.
Câu 6 | Kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà
Trong số các mô tả về kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà, đâu là mô tả đúng?
Kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà là hình thức bán hàng trong đó thuốc được đặt trước tại nhà v.v. của người mua, và chỉ sau khi người mua đã sử dụng thuốc đó thì mới phát sinh quyền đòi tiền.
Giấy phép kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà được quy định là chỉ cần nhận từ một Thống đốc tỉnh, thành phố bất kỳ, bất kể khu vực dự định đặt thuốc, thì có thể thực hiện việc đặt thuốc bán ở bất cứ đâu trên cả nước.
Kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà có thể bán hoặc chuyển giao thuốc cần hướng dẫn sử dụng.
Hộp đặt thuốc được để lại tại nhà v.v. của người mua, theo pháp luật, thuộc hành vi lưu trữ.
Đáp ánA. Kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà là hình thức bán hàng trong đó thuốc được đặt trước tại nhà v.v. của người mua, và chỉ sau khi người mua đã sử dụng thuốc đó thì mới phát sinh quyền đòi tiền.
Theo Guide, kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà là hình thức bán hàng trong đó thuốc được đặt trước tại nhà v.v. của người mua, và chỉ sau khi người mua đã sử dụng thuốc đó thì mới phát sinh quyền đòi tiền (gọi là "tiên dụng hậu lợi"). Giấy phép do Thống đốc tỉnh, thành phố có khu vực bao gồm khu vực dự định đặt thuốc cấp cho từng tỉnh, thành phố đó (Điều 30 khoản 1 của Luật). Giấy phép kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà chỉ dành cho nghiệp vụ bán hoặc chuyển giao thuốc không kê đơn (OTC) bằng phương thức đặt thuốc, không thể bán thuốc cần hướng dẫn sử dụng. Việc để lại hộp đặt thuốc, theo pháp luật, thuộc hành vi trưng bày.
Câu 7 | Mặt hàng kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà
Trong số các mô tả về kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà, đâu là mô tả SAI?
Người kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà không được bán v.v. thuốc nào khác ngoài thuốc không kê đơn (OTC) đáp ứng các tiêu chuẩn như ít bị biến chất theo thời gian v.v. (tiêu chuẩn mặt hàng kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà).
Trường hợp người kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà muốn bán v.v. thuốc bằng phương thức bán hoặc chuyển giao tại cửa hàng, thì phải nhận riêng giấy phép mở hiệu thuốc hoặc giấy phép kinh doanh cửa hàng bán thuốc.
Đối với việc kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà thuốc không kê đơn Nhóm 1, phải để dược sĩ bán hoặc chuyển giao, nếu không có dược sĩ tham gia kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà thì không thể bán hoặc chuyển giao thuốc không kê đơn Nhóm 1.
Kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà có thể mở niêm phong thuốc để bán lẻ theo phần.
Đáp ánD. Kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà có thể mở niêm phong thuốc để bán lẻ theo phần.
Việc mở niêm phong thuốc để bán lẻ theo phần bị cấm đối với kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà (Điều 37 khoản 2 của Luật), nên đây là phương án sai. Việc bán lẻ theo phần chỉ có thể thực hiện ở hiệu thuốc, kinh doanh cửa hàng bán thuốc và kinh doanh bán buôn thuốc. Tiêu chuẩn mặt hàng kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà (Điều 31 của Luật), việc thuốc không kê đơn Nhóm 1 cần dược sĩ bán (Điều 36-9 của Luật), việc cần nhận riêng giấy phép mở hiệu thuốc hoặc kinh doanh cửa hàng bán thuốc để bán tại cửa hàng, đều đúng theo Guide.
Câu 8 | Khai báo của người đi đặt thuốc
Trong số các mô tả về người kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà hoặc người đi đặt thuốc của họ, đâu là mô tả đúng?
Người kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà hoặc người đi đặt thuốc của họ, nếu không nhận và mang theo thẻ chứng minh thân phận do Thống đốc tỉnh, thành phố nơi cư trú cấp, thì không được tham gia kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà.
Nếu bảo quản thẻ chứng minh thân phận tại văn phòng kinh doanh, thì không cần mang theo khi tham gia kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà.
Người kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà hoặc người đi đặt thuốc của họ, sau khi tham gia kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà, chỉ cần khai báo với Thống đốc tỉnh, thành phố có khu vực bao gồm khu vực đã làm việc trong vòng 30 ngày là đủ.
Thẻ chứng minh thân phận mang theo khi tham gia kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà do Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi cấp.
Đáp ánA. Người kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà hoặc người đi đặt thuốc của họ, nếu không nhận và mang theo thẻ chứng minh thân phận do Thống đốc tỉnh, thành phố nơi cư trú cấp, thì không được tham gia kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà.
Theo Điều 33 khoản 1 của Luật, người kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà hoặc người đi đặt thuốc của họ, nếu không nhận và mang theo thẻ chứng minh thân phận do Thống đốc tỉnh, thành phố nơi cư trú cấp, thì không được tham gia kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà. Việc khai báo không phải sau khi đã làm việc, mà phải khai báo trước với Thống đốc tỉnh, thành phố nơi dự định tham gia kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà về họ tên và địa chỉ của người kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà, họ tên và địa chỉ của người tham gia kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà cùng khu vực và thời hạn của việc đó (Điều 32 của Luật). Đơn vị cấp thẻ chứng minh thân phận không phải Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi mà là Thống đốc tỉnh, thành phố nơi cư trú, và việc mang theo là bắt buộc.
Câu 9 | Bán lẻ theo phần
Trong số các mô tả về bán lẻ theo phần thuốc, đâu là mô tả đúng?
Hành vi chia nhỏ thuốc trước và bán theo yêu cầu của người mua cụ thể cũng được công nhận là bán lẻ theo phần.
Đối với thuốc được bán lẻ theo phần, không cần thể hiện hoặc ghi chép nội dung ghi chép trên vỏ đựng v.v. hoặc nội dung ghi chép trên tờ hướng dẫn sử dụng v.v.
Hiệu thuốc, kinh doanh cửa hàng bán thuốc và kinh doanh bán buôn thuốc có thể mở niêm phong bao bì thuốc để bán lẻ theo phần theo yêu cầu của người mua cụ thể.
Kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà được công nhận có thể mở niêm phong thuốc để bán lẻ theo phần.
Đáp ánC. Hiệu thuốc, kinh doanh cửa hàng bán thuốc và kinh doanh bán buôn thuốc có thể mở niêm phong bao bì thuốc để bán lẻ theo phần theo yêu cầu của người mua cụ thể.
Theo Guide, hiệu thuốc, kinh doanh cửa hàng bán thuốc và kinh doanh bán buôn thuốc có thể mở niêm phong bao bì thuốc để bán lẻ theo phần (bán theo cân, bán rời) theo yêu cầu của người mua cụ thể. Hành vi chia nhỏ thuốc trước và bán thuộc diện sản xuất không phép, sản xuất - bán không phép nên không được công nhận. Kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà bị cấm bán lẻ theo phần (Điều 37 khoản 2 của Luật). Khi bán lẻ theo phần, người bán lẻ theo phần phải chịu trách nhiệm thể hiện hoặc ghi chép nội dung ghi chép trên vỏ đựng v.v. và nội dung ghi chép trên tờ hướng dẫn sử dụng v.v.
Câu 10 | Kinh doanh bán buôn thuốc
Trong số các mô tả về kinh doanh bán buôn thuốc v.v., đâu là mô tả đúng?
Người kinh doanh bán buôn thuốc có thể bán trực tiếp thuốc cho người dân thông thường trong hoạt động kinh doanh.
Kinh doanh bán buôn thuốc không được công nhận mở niêm phong bao bì thuốc để bán lẻ theo phần.
Trường hợp người kinh doanh cửa hàng bán thuốc muốn bán v.v. thuốc bằng phương thức bán hoặc chuyển giao qua đặt thuốc, thì không cần nhận riêng giấy phép.
Kinh doanh bán buôn thuốc là hình thức kinh doanh bán v.v. thuốc cho hiệu thuốc, cơ sở kinh doanh bán thuốc khác, doanh nghiệp dược phẩm hoặc cơ sở y tế v.v.
Đáp ánD. Kinh doanh bán buôn thuốc là hình thức kinh doanh bán v.v. thuốc cho hiệu thuốc, cơ sở kinh doanh bán thuốc khác, doanh nghiệp dược phẩm hoặc cơ sở y tế v.v.
Theo Guide, kinh doanh bán buôn thuốc là hình thức kinh doanh bán v.v. thuốc cho hiệu thuốc, cơ sở kinh doanh bán thuốc khác, doanh nghiệp dược phẩm hoặc cơ sở y tế v.v., không được công nhận bán trực tiếp thuốc cho người dân thông thường trong hoạt động kinh doanh. Bán lẻ theo phần có thể thực hiện ở hiệu thuốc, kinh doanh cửa hàng bán thuốc và kinh doanh bán buôn thuốc. Ngoài ra, trường hợp người mở hiệu thuốc hoặc người kinh doanh cửa hàng bán thuốc muốn bán v.v. thuốc bằng phương thức bán hoặc chuyển giao qua đặt thuốc, thì phải nhận riêng giấy phép kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà.
Câu 11 | Thời gian vắng dược sĩ
Trong số các mô tả về thời gian vắng dược sĩ, đâu là mô tả SAI?
Ngay cả trong thời gian vắng dược sĩ, thuốc mà Người bán thuốc đăng ký có thể bán là thuốc không kê đơn Nhóm 2 hoặc Nhóm 3.
Người mở hiệu thuốc, trong thời gian vắng dược sĩ, phải đóng cửa phòng điều chế thuốc, đồng thời phải niêm yết nội dung liên quan đến thời gian vắng dược sĩ tại nơi dễ nhìn thấy bên trong hiệu thuốc và nơi dễ nhìn thấy bên ngoài hiệu thuốc đó.
Khoảng thời gian dược sĩ thường xuyên vắng mặt do nghiệp vụ của dược sĩ trường học hoặc nghiệp vụ định kỳ đã được lên lịch trước, cũng được công nhận là thời gian vắng dược sĩ.
Thời gian vắng dược sĩ là khoảng thời gian trong giờ mở cửa, do dược sĩ đang thực hiện điều chế thuốc tại hiệu thuốc đó phải thực hiện nghiệp vụ tại nơi khác ngoài hiệu thuốc đó, nên bất đắc dĩ và tạm thời hiệu thuốc đó không có dược sĩ.
Đáp ánC. Khoảng thời gian dược sĩ thường xuyên vắng mặt do nghiệp vụ của dược sĩ trường học hoặc nghiệp vụ định kỳ đã được lên lịch trước, cũng được công nhận là thời gian vắng dược sĩ.
Theo Guide, khoảng thời gian dược sĩ thường xuyên vắng mặt do nghiệp vụ của dược sĩ trường học hoặc nghiệp vụ định kỳ đã được lên lịch trước thì không được công nhận, nên đây là phương án sai. Thời gian vắng dược sĩ chỉ giới hạn ở khoảng thời gian bất đắc dĩ và tạm thời dược sĩ vắng mặt. Việc đóng cửa phòng điều chế và niêm yết trong thời gian vắng mặt, việc Người bán thuốc đăng ký có thể bán thuốc không kê đơn Nhóm 2 hoặc Nhóm 3, đều đúng theo Guide.
Câu 12 | Hiệu thuốc được công nhận v.v.
Trong số các mô tả về hiệu thuốc liên kết khu vực, hiệu thuốc liên kết cơ sở y tế chuyên khoa và hiệu thuốc hỗ trợ sức khỏe, đâu là mô tả đúng?
Hiệu thuốc liên kết khu vực có thể được gọi như vậy sau khi nhận được sự công nhận của Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi.
Hiệu thuốc hỗ trợ sức khỏe là hiệu thuốc có chức năng cần thiết để liên kết với các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế khác, thực hiện hướng dẫn dựa trên kiến thức dược học chuyên sâu theo từng nhóm bệnh, thương tật.
Người mở hiệu thuốc, khi thể hiện đó là hiệu thuốc hỗ trợ sức khỏe, phải làm cho hiệu thuốc đó đáp ứng tiêu chuẩn do Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi quy định.
Hiệu thuốc liên kết cơ sở y tế chuyên khoa được công nhận đồng loạt bất kể nhóm bệnh, thương tật, và việc công nhận do Thống đốc tỉnh, thành phố nơi có hiệu thuốc thực hiện.
Đáp ánC. Người mở hiệu thuốc, khi thể hiện đó là hiệu thuốc hỗ trợ sức khỏe, phải làm cho hiệu thuốc đó đáp ứng tiêu chuẩn do Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi quy định.
Theo Guide, khi thể hiện đó là hiệu thuốc hỗ trợ sức khỏe, phải làm cho hiệu thuốc đó đáp ứng tiêu chuẩn do Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi quy định (Điều 15-11 của Quy tắc thi hành). Hiệu thuốc hỗ trợ sức khỏe là hiệu thuốc có chức năng tích cực hỗ trợ việc bệnh nhân sử dụng liên tục và nỗ lực chủ động duy trì, tăng cường sức khỏe cá nhân; chức năng hướng dẫn dựa trên kiến thức dược học chuyên sâu là giải thích của hiệu thuốc liên kết cơ sở y tế chuyên khoa. Việc công nhận hiệu thuốc liên kết khu vực không phải do Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi mà do Thống đốc tỉnh, thành phố nơi có hiệu thuốc thực hiện, còn hiệu thuốc liên kết cơ sở y tế chuyên khoa được công nhận theo từng nhóm bệnh, thương tật.
Câu 13 | Người tham gia bán thuốc
Trong số các mô tả về người tham gia bán thuốc theo từng phân nhóm rủi ro, đâu là mô tả đúng?
Thuốc không kê đơn Nhóm 1 có thể do Người bán thuốc đăng ký bán hoặc chuyển giao.
Thuốc cần hướng dẫn sử dụng và thuốc không kê đơn Nhóm 1, ngay cả khi cửa hàng đó không có dược sĩ, nếu có Người bán thuốc đăng ký thì vẫn có thể bán hoặc chuyển giao.
Người mở hiệu thuốc hoặc người kinh doanh cửa hàng bán thuốc, khi bán hoặc chuyển giao thuốc cần hướng dẫn sử dụng, phải để dược sĩ bán, chuyển giao.
Thuốc không kê đơn Nhóm 2 không thể do Người bán thuốc đăng ký bán hoặc chuyển giao, phải là dược sĩ mới có thể bán hoặc chuyển giao.
Đáp ánC. Người mở hiệu thuốc hoặc người kinh doanh cửa hàng bán thuốc, khi bán hoặc chuyển giao thuốc cần hướng dẫn sử dụng, phải để dược sĩ bán, chuyển giao.
Theo quy định tại Điều 36-5 của Luật, thuốc cần hướng dẫn sử dụng phải để dược sĩ bán, chuyển giao. Thuốc không kê đơn Nhóm 1 cũng phải để dược sĩ bán hoặc chuyển giao, Người bán thuốc đăng ký không thể bán. Thuốc không kê đơn Nhóm 2 và Nhóm 3 phải để dược sĩ hoặc Người bán thuốc đăng ký bán hoặc chuyển giao, không giới hạn ở dược sĩ. Thuốc cần hướng dẫn sử dụng và thuốc không kê đơn Nhóm 1, nếu cửa hàng đó không có dược sĩ thì không thể bán hoặc chuyển giao.
Câu 14 | Cung cấp thông tin thuốc Nhóm 1
Trong số các mô tả về việc cung cấp thông tin khi bán hoặc chuyển giao thuốc không kê đơn Nhóm 1, đâu là mô tả đúng?
Người mở hiệu thuốc hoặc người kinh doanh cửa hàng bán thuốc phải để dược sĩ tham gia bán hoặc chuyển giao thuốc, sử dụng văn bản ghi các nội dung quy định để cung cấp thông tin cần thiết.
Việc cung cấp thông tin không cần dùng văn bản, chỉ cần để dược sĩ thực hiện bằng lời nói là đủ.
Việc cung cấp thông tin về thuốc không kê đơn Nhóm 1 có thể để cả Người bán thuốc đăng ký thực hiện, ngoài dược sĩ.
Người mở hiệu thuốc hoặc người kinh doanh cửa hàng bán thuốc chỉ dừng ở mức phải nỗ lực để dược sĩ tham gia bán hoặc chuyển giao thuốc cung cấp thông tin cần thiết (nghĩa vụ nỗ lực).
Đáp ánA. Người mở hiệu thuốc hoặc người kinh doanh cửa hàng bán thuốc phải để dược sĩ tham gia bán hoặc chuyển giao thuốc, sử dụng văn bản ghi các nội dung quy định để cung cấp thông tin cần thiết.
Theo Điều 36-10 khoản 1 của Luật, khi bán hoặc chuyển giao thuốc không kê đơn Nhóm 1, phải để dược sĩ, sử dụng văn bản ghi các nội dung quy định để cung cấp thông tin cần thiết, đây là nghĩa vụ chứ không phải nghĩa vụ nỗ lực. Bắt buộc phải dùng văn bản, chỉ bằng lời nói là chưa đủ. Việc cung cấp thông tin do dược sĩ thực hiện, không thể để Người bán thuốc đăng ký thực hiện. Nghĩa vụ nỗ lực là quy định về cung cấp thông tin của thuốc không kê đơn Nhóm 2.
Câu 15 | Cung cấp thông tin thuốc Nhóm 2
Trong số các mô tả về việc cung cấp thông tin khi bán hoặc chuyển giao thuốc không kê đơn Nhóm 2, đâu là mô tả đúng?
Về việc cung cấp thông tin, pháp luật không có quy định riêng.
Việc cung cấp thông tin về thuốc không kê đơn Nhóm 2 không thể để Người bán thuốc đăng ký thực hiện, phải là dược sĩ mới có thể thực hiện.
Phải nỗ lực để dược sĩ hoặc Người bán thuốc đăng ký tham gia bán hoặc chuyển giao thuốc cung cấp thông tin cần thiết.
Việc dược sĩ tham gia bán hoặc chuyển giao thuốc cung cấp thông tin bằng văn bản ghi các nội dung quy định là bắt buộc.
Đáp ánC. Phải nỗ lực để dược sĩ hoặc Người bán thuốc đăng ký tham gia bán hoặc chuyển giao thuốc cung cấp thông tin cần thiết.
Theo Điều 36-10 khoản 3 của Luật, khi bán hoặc chuyển giao thuốc không kê đơn Nhóm 2, phải nỗ lực để dược sĩ hoặc Người bán thuốc đăng ký cung cấp thông tin cần thiết, đây là nghĩa vụ nỗ lực. Việc cung cấp thông tin bằng văn bản là bắt buộc đối với thuốc cần hướng dẫn sử dụng và thuốc không kê đơn Nhóm 1, còn pháp luật không có quy định riêng đối với thuốc không kê đơn Nhóm 3. Việc cung cấp thông tin về thuốc không kê đơn Nhóm 2 có thể do cả dược sĩ và Người bán thuốc đăng ký thực hiện.
Câu 16 | Cung cấp thông tin thuốc Nhóm 3
Trong số các mô tả về việc cung cấp thông tin khi bán hoặc chuyển giao thuốc không kê đơn Nhóm 3, đâu là mô tả đúng?
Ngay cả khi người mua có thắc mắc, cũng không có nghĩa vụ cung cấp thông tin đối với thuốc không kê đơn Nhóm 3.
Pháp luật quy định phải nỗ lực để dược sĩ hoặc Người bán thuốc đăng ký cung cấp thông tin cần thiết (nghĩa vụ nỗ lực).
Nên để dược sĩ hoặc Người bán thuốc đăng ký cung cấp thông tin cần thiết, nhưng pháp luật không có quy định riêng.
Việc cung cấp thông tin bằng văn bản là bắt buộc.
Đáp ánC. Nên để dược sĩ hoặc Người bán thuốc đăng ký cung cấp thông tin cần thiết, nhưng pháp luật không có quy định riêng.
Theo Guide, khi bán hoặc chuyển giao thuốc không kê đơn Nhóm 3, nên để dược sĩ hoặc Người bán thuốc đăng ký cung cấp thông tin cần thiết, nhưng bảng tóm tắt phân nhóm rủi ro cũng ghi là "pháp luật không có quy định riêng". Nghĩa vụ cung cấp thông tin bằng văn bản là quy định của thuốc cần hướng dẫn sử dụng và thuốc không kê đơn Nhóm 1, còn nghĩa vụ nỗ lực là quy định của thuốc không kê đơn Nhóm 2. Mặt khác, việc đáp ứng khi người mua phía có thắc mắc là nghĩa vụ bất kể phân nhóm rủi ro, bao gồm cả thuốc không kê đơn Nhóm 3.
Câu 17 | Đáp ứng thắc mắc
Trong số các mô tả về cách đáp ứng khi có thắc mắc từ người mua thuốc v.v., đâu là mô tả đúng?
Vì thuốc không kê đơn Nhóm 3 không có quy định riêng của pháp luật về cung cấp thông tin, nên ngay cả khi có thắc mắc từ người muốn mua, cũng không phát sinh nghĩa vụ cung cấp thông tin.
Việc đáp ứng khi có thắc mắc từ người muốn mua thuốc không kê đơn Nhóm 2 không phải nghĩa vụ mà là nghĩa vụ nỗ lực.
Người mở hiệu thuốc, người kinh doanh cửa hàng bán thuốc hoặc người kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà, khi có thắc mắc từ người muốn mua thuốc không kê đơn, phải cung cấp thông tin trước rồi mới bán hoặc chuyển giao.
Việc đáp ứng khi có thắc mắc từ người muốn mua thuốc cần hướng dẫn sử dụng có thể để cả Người bán thuốc đăng ký tham gia nghiệp vụ dược sự thực hiện, ngoài dược sĩ.
Đáp ánC. Người mở hiệu thuốc, người kinh doanh cửa hàng bán thuốc hoặc người kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà, khi có thắc mắc từ người muốn mua thuốc không kê đơn, phải cung cấp thông tin trước rồi mới bán hoặc chuyển giao.
Theo Guide, khi có thắc mắc từ người muốn mua thuốc không kê đơn (OTC), phải cung cấp thông tin trước rồi mới bán hoặc chuyển giao. Việc đáp ứng khi có thắc mắc, theo bảng tóm tắt phân nhóm rủi ro, đều là "nghĩa vụ" từ thuốc cần hướng dẫn sử dụng đến thuốc không kê đơn Nhóm 3, nên mô tả cho rằng Nhóm 3 không phát sinh nghĩa vụ hay Nhóm 2 chỉ là nghĩa vụ nỗ lực đều sai. Việc đáp ứng thắc mắc đối với thuốc cần hướng dẫn sử dụng phải để dược sĩ cung cấp thông tin cần thiết hoặc thực hiện hướng dẫn dựa trên kiến thức dược học, Người bán thuốc đăng ký không thể thực hiện.
Câu 18 | Ngoại lệ cung cấp thông tin
Trong số các mô tả về ngoại lệ cung cấp thông tin của thuốc không kê đơn Nhóm 1, đâu là mô tả đúng?
Việc cung cấp thông tin bằng văn bản của thuốc không kê đơn Nhóm 1 không thể lược bỏ trong bất kỳ trường hợp nào, bất kể ý định của người mua.
Ngay cả thuốc cần hướng dẫn sử dụng, nếu người mua hoặc người nhận chuyển nhượng bày tỏ ý định không cần giải thích, thì có thể bán mà không cần dược sĩ cung cấp thông tin và hướng dẫn dựa trên kiến thức dược học.
Nếu người mua hoặc người nhận chuyển nhượng bày tỏ ý định không cần giải thích, thì có thể lược bỏ việc cung cấp thông tin thuốc không kê đơn Nhóm 1 bằng cách để Người bán thuốc đăng ký phán đoán là được sử dụng đúng đắn.
Nếu người mua thuốc không kê đơn Nhóm 1 bày tỏ ý định không cần giải thích, và dược sĩ phán đoán rằng thuốc không kê đơn Nhóm 1 đó được sử dụng đúng đắn, thì quy định cung cấp thông tin sẽ không được áp dụng.
Đáp ánD. Nếu người mua thuốc không kê đơn Nhóm 1 bày tỏ ý định không cần giải thích, và dược sĩ phán đoán rằng thuốc không kê đơn Nhóm 1 đó được sử dụng đúng đắn, thì quy định cung cấp thông tin sẽ không được áp dụng.
Theo Điều 36-10 khoản 6 của Luật, nếu người mua hoặc người nhận chuyển nhượng thuốc không kê đơn Nhóm 1 bày tỏ ý định không cần giải thích, và dược sĩ phán đoán rằng thuốc không kê đơn Nhóm 1 đó được sử dụng đúng đắn, thì quy định cung cấp thông tin sẽ không được áp dụng. Do đó, mô tả cho rằng "không thể lược bỏ trong bất kỳ trường hợp nào" là sai. Việc phán đoán sử dụng đúng đắn do dược sĩ thực hiện, không phải Người bán thuốc đăng ký. Ngoài ra, đối với thuốc cần hướng dẫn sử dụng, Guide không nêu quy định ngoại lệ như vậy, và quy định rằng nếu không thể cung cấp thông tin - hướng dẫn thì không được bán.
Câu 19 | Bán thuốc cần hướng dẫn sử dụng
Trong số các mô tả về phương pháp mà người mở hiệu thuốc hoặc người kinh doanh cửa hàng bán thuốc phải để dược sĩ thực hiện khi bán thuốc cần hướng dẫn sử dụng, đâu là mô tả SAI?
Nếu người muốn mua yêu cầu, có thể bán với số lượng không giới hạn.
Cho người muốn mua biết họ tên của dược sĩ đã bán thuốc cần hướng dẫn sử dụng đó, tên gọi và số điện thoại cùng thông tin liên hệ khác của hiệu thuốc hoặc cửa hàng đó.
Xác nhận người muốn mua thuốc cần hướng dẫn sử dụng đó chính là người sẽ sử dụng thuốc cần hướng dẫn sử dụng đó.
Sau khi xác nhận người đã nhận cung cấp thông tin và hướng dẫn đã hiểu nội dung cung cấp thông tin và hướng dẫn đó, đồng thời không còn thắc mắc, thì mới bán.
Đáp ánA. Nếu người muốn mua yêu cầu, có thể bán với số lượng không giới hạn.
Đối với thuốc cần hướng dẫn sử dụng, phải xác nhận tình trạng mua hoặc nhận chuyển nhượng từ người mở hiệu thuốc hoặc người kinh doanh cửa hàng bán thuốc khác, và dựa trên các nội dung đã xác nhận đó, chỉ được bán với số lượng cần thiết được công nhận là cần cho việc sử dụng đúng đắn (Điều 158-11 của Quy tắc thi hành), nên mô tả cho rằng có thể bán với số lượng không giới hạn là sai. Việc xác nhận người sử dụng chính là bản thân, việc bán sau khi xác nhận đã hiểu và không còn thắc mắc, việc cho biết họ tên dược sĩ - tên gọi hiệu thuốc v.v. - thông tin liên hệ, đều là các phương pháp được Guide quy định nên đúng.
Câu 20 | Nội dung xác nhận trước
Trong số các nội dung mà dược sĩ phải xác nhận trước khi cung cấp thông tin cho thuốc không kê đơn Nhóm 1, đâu là nội dung KHÔNG được Guide nêu ra?
Có đang mang thai hay không và nếu đang mang thai thì tuần thai bao nhiêu
Độ tuổi
Nghề nghiệp của người muốn mua
Tình trạng sử dụng thuốc hoặc dược phẩm khác
Đáp ánC. Nghề nghiệp của người muốn mua
Nội dung xác nhận theo Điều 159-15 khoản 4 của Quy tắc thi hành gồm độ tuổi, tình trạng sử dụng thuốc hoặc dược phẩm khác, giới tính, triệu chứng, có được bác sĩ hoặc nha sĩ chẩn đoán về triệu chứng hay không, tên bệnh khác đang mắc phải, có đang mang thai hay không và tuần thai, có đang cho con bú hay không, kinh nghiệm mua - nhận chuyển nhượng - sử dụng, có từng mắc bệnh nghi ngờ do tác dụng phụ hay không v.v., không có nghề nghiệp của người muốn mua.
Câu 21 | Ghi chép bán hàng
Trong số các mô tả về ghi chép khi bán thuốc, đâu là mô tả đúng?
Khi bán thuốc không kê đơn Nhóm 2 hoặc Nhóm 3, bắt buộc phải ghi tên dược phẩm, số lượng, ngày giờ bán v.v. vào văn bản và lưu trữ trong 2 năm.
Thời hạn lưu trữ văn bản khi bán thuốc cần hướng dẫn sử dụng không phải 2 năm mà là 5 năm.
Bắt buộc phải ghi thông tin liên hệ của người mua thuốc vào văn bản và lưu trữ trong 2 năm.
Người kinh doanh cửa hàng bán thuốc, khi bán thuốc cần hướng dẫn sử dụng hoặc thuốc không kê đơn Nhóm 1, phải ghi tên dược phẩm, số lượng, ngày giờ bán v.v. vào văn bản và lưu trữ trong 2 năm.
Đáp ánD. Người kinh doanh cửa hàng bán thuốc, khi bán thuốc cần hướng dẫn sử dụng hoặc thuốc không kê đơn Nhóm 1, phải ghi tên dược phẩm, số lượng, ngày giờ bán v.v. vào văn bản và lưu trữ trong 2 năm.
Theo Guide, người kinh doanh cửa hàng bán thuốc, khi bán hoặc chuyển giao thuốc cần hướng dẫn sử dụng hoặc thuốc không kê đơn Nhóm 1, phải ghi tên dược phẩm, số lượng, ngày giờ bán - chuyển giao, họ tên dược sĩ đã bán - chuyển giao v.v. vào văn bản và lưu trữ trong 2 năm. Đối với thuốc không kê đơn Nhóm 2 hoặc Nhóm 3, chỉ cần nỗ lực ghi vào văn bản và lưu trữ (nghĩa vụ nỗ lực), không phải nghĩa vụ. Thời hạn lưu trữ không phải 5 năm mà là 2 năm. Việc ghi và lưu trữ thông tin liên hệ của người mua cũng là nghĩa vụ nỗ lực.
Câu 22 | Trưng bày thuốc cần hướng dẫn sử dụng
Trong số các mô tả về trưng bày thuốc cần hướng dẫn sử dụng, đâu là mô tả đúng?
Thuốc cần hướng dẫn sử dụng phải được trưng bày ở kệ trưng bày mà người muốn mua v.v. có thể trực tiếp chạm tay vào, tức nơi có thể tự do lấy tay cầm lên.
Thuốc cần hướng dẫn sử dụng, trừ trường hợp trưng bày ở kệ trưng bày có khóa v.v., phải trưng bày ở kệ trưng bày bên trong khu vực trưng bày thuốc cần hướng dẫn sử dụng.
Thuốc cần hướng dẫn sử dụng có thể trưng bày lẫn với thuốc không kê đơn (OTC).
Người mở hiệu thuốc hoặc người kinh doanh cửa hàng bán thuốc có thể lưu trữ hoặc trưng bày thuốc mà không phân biệt với các vật khác như thực phẩm, quasi-drug, mỹ phẩm v.v.
Đáp ánB. Thuốc cần hướng dẫn sử dụng, trừ trường hợp trưng bày ở kệ trưng bày có khóa v.v., phải trưng bày ở kệ trưng bày bên trong khu vực trưng bày thuốc cần hướng dẫn sử dụng.
Theo Guide, thuốc cần hướng dẫn sử dụng, trừ trường hợp trưng bày ở kệ trưng bày có khóa, hoặc trưng bày ở kệ trưng bày mà người muốn mua v.v. không thể trực tiếp chạm tay vào, phải trưng bày ở kệ trưng bày bên trong khu vực trưng bày thuốc cần hướng dẫn sử dụng. Thuốc cần hướng dẫn sử dụng và thuốc không kê đơn (OTC) phải trưng bày sao cho không lẫn với nhau, và không có nghĩa vụ trưng bày ở nơi có thể tự do lấy tay cầm lên. Ngoài ra, thuốc phải được lưu trữ hoặc trưng bày tách biệt khỏi các vật khác (Điều 57-2 khoản 1 của Luật).
Câu 23 | Trưng bày thuốc Nhóm 2 được chỉ định
Trong số các mô tả về trưng bày thuốc không kê đơn Nhóm 2 được chỉ định, đâu là mô tả đúng?
Thuốc không kê đơn Nhóm 2 được chỉ định bắt buộc phải trưng bày ở kệ trưng bày có khóa.
Thuốc không kê đơn Nhóm 2 được chỉ định phải trưng bày trong phạm vi 10 mét kể từ "thiết bị cung cấp thông tin".
Nếu áp dụng biện pháp cần thiết để người muốn mua thuốc v.v. không thể tiến vào phạm vi 3 mét kể từ kệ trưng bày thuốc không kê đơn Nhóm 2 được chỉ định, thì có thể trưng bày ở ngoài phạm vi 7 mét.
Thuốc không kê đơn Nhóm 2 được chỉ định, trừ trường hợp trưng bày ở kệ trưng bày có khóa v.v., phải trưng bày trong phạm vi 7 mét kể từ "thiết bị cung cấp thông tin".
Đáp ánD. Thuốc không kê đơn Nhóm 2 được chỉ định, trừ trường hợp trưng bày ở kệ trưng bày có khóa v.v., phải trưng bày trong phạm vi 7 mét kể từ "thiết bị cung cấp thông tin".
Theo Điều 218-4 khoản 1 mục 2 của Quy tắc thi hành, thuốc không kê đơn Nhóm 2 được chỉ định phải trưng bày trong phạm vi 7 mét kể từ "thiết bị cung cấp thông tin" theo quy định của Quy tắc về cấu trúc, thiết bị. Ngoại lệ là trường hợp trưng bày ở kệ trưng bày có khóa, và trường hợp áp dụng biện pháp cần thiết để người muốn mua v.v. không thể tiến vào phạm vi 1,2 mét kể từ kệ trưng bày thuốc không kê đơn Nhóm 2 được chỉ định, nên các con số 10 mét hay 3 mét là sai. Việc trưng bày ở kệ trưng bày có khóa chỉ là một trong các ngoại lệ, không phải nghĩa vụ.
Câu 24 | Trưng bày và đóng cửa
Trong số các mô tả về trưng bày thuốc v.v., đâu là mô tả SAI?
Người kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà, khi trưng bày thuốc không kê đơn, phải trưng bày theo từng phân nhóm thuốc không kê đơn Nhóm 1, Nhóm 2, Nhóm 3, và phải sắp đặt sao cho không lẫn với nhau.
Người mở hiệu thuốc hoặc người kinh doanh cửa hàng bán thuốc, khi trưng bày thuốc không kê đơn, phải trưng bày sao cho thuốc không kê đơn Nhóm 1, Nhóm 2 và Nhóm 3 không lẫn với nhau.
Ngay cả khi thuốc không kê đơn Nhóm 1 được trưng bày ở kệ trưng bày có khóa, thì trong thời gian không bán thuốc không kê đơn Nhóm 1, vẫn phải đóng cửa khu vực trưng bày thuốc không kê đơn Nhóm 1.
Người mở hiệu thuốc hoặc người kinh doanh cửa hàng bán thuốc, trong thời gian không bán hoặc chuyển giao thuốc cần hướng dẫn sử dụng hoặc thuốc không kê đơn, phải đóng cửa nơi thường trưng bày hoặc giao các thuốc này.
Đáp ánC. Ngay cả khi thuốc không kê đơn Nhóm 1 được trưng bày ở kệ trưng bày có khóa, thì trong thời gian không bán thuốc không kê đơn Nhóm 1, vẫn phải đóng cửa khu vực trưng bày thuốc không kê đơn Nhóm 1.
Theo Guide, trong thời gian không bán hoặc chuyển giao thuốc cần hướng dẫn sử dụng hoặc thuốc không kê đơn Nhóm 1, phải đóng cửa khu vực trưng bày thuốc cần hướng dẫn sử dụng hoặc khu vực trưng bày thuốc không kê đơn Nhóm 1, nhưng nếu thuốc cần hướng dẫn sử dụng hoặc thuốc không kê đơn Nhóm 1 được trưng bày ở kệ trưng bày có khóa thì không phải như vậy, nên đây là phương án sai. Việc cấm thuốc không kê đơn Nhóm 1, Nhóm 2, Nhóm 3 lẫn nhau (Điều 218-4 của Quy tắc thi hành), việc sắp đặt theo từng phân nhóm của kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà, việc đóng cửa nơi trưng bày - giao thuốc trong thời gian không bán, đều đúng theo Guide.
Câu 25 | Bán hàng đặc định là gì
Trong số các mô tả về bán hàng đặc định, đâu là mô tả đúng?
Bán hàng đặc định là việc hiệu thuốc hoặc cửa hàng đó bán hoặc chuyển giao thuốc cho người ở nơi khác ngoài hiệu thuốc hoặc cửa hàng đó, và đối tượng bao gồm cả thuốc cần hướng dẫn sử dụng, thuốc không kê đơn (OTC) lẫn thuốc kê đơn được sử dụng theo đơn của bác sĩ hoặc nha sĩ.
Bán hàng đặc định là việc hiệu thuốc hoặc cửa hàng đó bán hoặc chuyển giao thuốc cần hướng dẫn sử dụng (trừ thuốc cần hướng dẫn sử dụng đặc định), thuốc không kê đơn (OTC) hoặc dược phẩm tự sản xuất, bán của hiệu thuốc (trừ loại là thuốc độc và thuốc độc mạnh) cho người ở nơi khác ngoài hiệu thuốc hoặc cửa hàng đó.
Bán hàng đặc định có thể bán cả thuốc cần hướng dẫn sử dụng đặc định trong số thuốc cần hướng dẫn sử dụng.
Bán hàng đặc định có thể bán dược phẩm tự sản xuất, bán của hiệu thuốc là thuốc độc hoặc thuốc độc mạnh.
Đáp ánB. Bán hàng đặc định là việc hiệu thuốc hoặc cửa hàng đó bán hoặc chuyển giao thuốc cần hướng dẫn sử dụng (trừ thuốc cần hướng dẫn sử dụng đặc định), thuốc không kê đơn (OTC) hoặc dược phẩm tự sản xuất, bán của hiệu thuốc (trừ loại là thuốc độc và thuốc độc mạnh) cho người ở nơi khác ngoài hiệu thuốc hoặc cửa hàng đó.
Theo Điều 1-2 khoản 2 mục 2 của Quy tắc thi hành, bán hàng đặc định (特定販売, Tokutei Hanbai) được định nghĩa là việc hiệu thuốc hoặc cửa hàng đó bán hoặc chuyển giao thuốc cần hướng dẫn sử dụng (trừ thuốc cần hướng dẫn sử dụng đặc định), thuốc không kê đơn (OTC) hoặc dược phẩm tự sản xuất, bán của hiệu thuốc (trừ loại là thuốc độc và thuốc độc mạnh) cho người ở nơi khác ngoài hiệu thuốc hoặc cửa hàng đó. Theo định nghĩa này, thuốc kê đơn, thuốc cần hướng dẫn sử dụng đặc định, dược phẩm tự sản xuất của hiệu thuốc là thuốc độc hoặc thuốc độc mạnh, đều không thuộc đối tượng bán hàng đặc định.
Câu 26 | Hiển thị bán hàng đặc định
Khi quảng cáo việc thực hiện bán hàng đặc định qua Internet, trong số các thông tin phải hiển thị dễ nhìn trên trang web, đâu là nội dung KHÔNG được Guide nêu ra?
Hạn sử dụng của dược phẩm tự sản xuất, bán của hiệu thuốc, thuốc cần hướng dẫn sử dụng (trừ thuốc cần hướng dẫn sử dụng đặc định) hoặc thuốc không kê đơn (OTC) được bán hàng đặc định
Ảnh chụp ngoại quan chính của hiệu thuốc hoặc cửa hàng
Ảnh chụp thể hiện tình trạng trưng bày dược phẩm tự sản xuất, bán của hiệu thuốc, thuốc cần hướng dẫn sử dụng (trừ thuốc cần hướng dẫn sử dụng đặc định) hoặc thuốc không kê đơn (OTC)
Bản vẽ mặt bằng bên trong hiệu thuốc hoặc cửa hàng
Đáp ánD. Bản vẽ mặt bằng bên trong hiệu thuốc hoặc cửa hàng
Các nội dung phải hiển thị dễ nhìn trên trang web đi kèm bán hàng đặc định gồm ảnh chụp ngoại quan chính của hiệu thuốc hoặc cửa hàng, ảnh chụp thể hiện tình trạng trưng bày dược phẩm, sự phân biệt và họ tên của dược sĩ hoặc Người bán thuốc đăng ký hiện đang làm việc, thời gian tương ứng trong trường hợp giờ mở cửa khác với thời gian thực hiện bán hàng đặc định, và hạn sử dụng của dược phẩm được bán hàng đặc định; bản vẽ mặt bằng bên trong hiệu thuốc hoặc cửa hàng không được nêu ra.
Câu 27 | Phương pháp bán hàng đặc định
Trong số các mô tả về phương pháp bán hàng đặc định, đâu là mô tả đúng?
Khi quảng cáo việc thực hiện bán hàng đặc định qua Internet, phải thực hiện trên trang web mà Thống đốc tỉnh, thành phố v.v. và Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi có thể dễ dàng xem được.
Khi thực hiện bán hàng đặc định, ngay cả khi người muốn mua có nguyện vọng được đáp ứng thắc mắc bằng cách gặp mặt trực tiếp hoặc qua điện thoại, chỉ cần trả lời qua email là đủ.
Khi thực hiện bán hàng đặc định, chỉ cần gửi trực tiếp thuốc đã lấy từ hiệu thuốc hoặc cửa hàng khác là được, không cần là thuốc đang được lưu trữ hoặc trưng bày tại hiệu thuốc hoặc cửa hàng đó.
Trong quảng cáo bán hàng đặc định, không cần thể hiện thuốc theo từng phân nhóm rủi ro.
Đáp ánA. Khi quảng cáo việc thực hiện bán hàng đặc định qua Internet, phải thực hiện trên trang web mà Thống đốc tỉnh, thành phố v.v. và Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi có thể dễ dàng xem được.
Theo Guide, khi quảng cáo việc thực hiện bán hàng đặc định qua Internet, phải thực hiện trên trang web mà Thống đốc tỉnh, thành phố (thị trưởng hoặc trưởng khu nếu thuộc khu vực thành phố có trạm y tế hoặc khu đặc biệt) và Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi có thể dễ dàng xem được. Bán hàng đặc định phải bán thuốc đang được lưu trữ hoặc trưng bày tại hiệu thuốc hoặc cửa hàng đó. Nếu có nguyện vọng được đáp ứng thắc mắc bằng cách gặp mặt trực tiếp hoặc qua điện thoại, phải để cung cấp thông tin bằng cách gặp mặt trực tiếp hoặc qua điện thoại. Quảng cáo phải thể hiện theo từng phân nhóm như thuốc cần hướng dẫn sử dụng (trừ thuốc cần hướng dẫn sử dụng đặc định) hay thuốc không kê đơn Nhóm 1 v.v.
Câu 28 | Thành phần phòng chống lạm dụng
Trong số các thành phần được thể hiện số lượng do Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi quy định là thuốc được chỉ định phòng chống lạm dụng (đều trừ dạng dùng ngoài), đâu là thành phần KHÔNG thuộc diện này?
Ephedrin
Dextromethorphan
Bromovalerylurea
Acetaminophen
Đáp ánD. Acetaminophen
8 thành phần được nêu trong bảng của Guide là ephedrin, codein, dihydrocodein, diphenhydramin, dextromethorphan, pseudoephedrin, bromovalerylurea, methylephedrin (đều trừ dạng dùng ngoài), acetaminophen không thuộc trong số đó. Ephedrin, bromovalerylurea, dextromethorphan đều thuộc trong bảng đó.
Câu 29 | Xác nhận khi bán thuốc chống lạm dụng
Trong số các mô tả về nội dung phải xác nhận trước khi bán thuốc được chỉ định phòng chống lạm dụng, đâu là mô tả đúng?
Nếu người muốn mua thuốc được chỉ định phòng chống lạm dụng tại hiệu thuốc v.v. đó dưới 18 tuổi, phải xác nhận họ tên của người đó.
Tình trạng mua hoặc nhận chuyển nhượng thuốc được chỉ định phòng chống lạm dụng đó và các thuốc được chỉ định phòng chống lạm dụng khác được quy định là không cần xác nhận trước.
Ngay cả khi muốn mua vượt quá số lượng do Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi quy định, cũng không cần xác nhận trước lý do mua hàng đó.
Không cần xác nhận độ tuổi của người muốn mua.
Đáp ánA. Nếu người muốn mua thuốc được chỉ định phòng chống lạm dụng tại hiệu thuốc v.v. đó dưới 18 tuổi, phải xác nhận họ tên của người đó.
Nội dung xác nhận theo Điều 159-18-5 của Quy tắc thi hành gồm độ tuổi, họ tên của người đó nếu người muốn mua dưới 18 tuổi, tình trạng mua hoặc nhận chuyển nhượng thuốc được chỉ định phòng chống lạm dụng đó và các thuốc được chỉ định phòng chống lạm dụng khác, lý do nếu muốn mua vượt quá số lượng quy định, nội dung cần thiết để xác nhận việc mua nhằm mục đích sử dụng đúng đắn v.v. Do đó, các mô tả cho rằng không cần xác nhận độ tuổi - tình trạng mua - lý do vượt số lượng đều sai.
Câu 30 | Giới hạn số lượng thuốc chống lạm dụng
Trong số các mô tả về việc bán thuốc được chỉ định phòng chống lạm dụng, đâu là mô tả đúng?
Số lượng do Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi quy định đối với pseudoephedrin (trừ dạng dùng ngoài) là một bao bì, và xét theo cách dùng, liều dùng thì không vượt quá 5 ngày dùng (đối với chế phẩm được công nhận có công dụng hoặc hiệu quả như thuốc cảm hoặc thuốc uống trị viêm mũi thì là 7 ngày dùng).
Ngay cả khi không thể cung cấp thông tin hoặc trường hợp khác được công nhận là không thể bảo đảm sử dụng đúng đắn, vẫn có thể bán thuốc được chỉ định phòng chống lạm dụng.
Nếu người muốn mua có nguyện vọng, thì dù vượt quá số lượng do Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi quy định, có thể bán một lần với số ngày dùng bao nhiêu cũng được.
Số lượng do Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi quy định đối với codein (trừ dạng dùng ngoài) là một bao bì, và xét theo cách dùng, liều dùng thì không vượt quá 10 ngày dùng (đối với chế phẩm được công nhận có công dụng hoặc hiệu quả như thuốc cảm hoặc thuốc uống trị viêm mũi thì là 14 ngày dùng).
Đáp ánA. Số lượng do Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi quy định đối với pseudoephedrin (trừ dạng dùng ngoài) là một bao bì, và xét theo cách dùng, liều dùng thì không vượt quá 5 ngày dùng (đối với chế phẩm được công nhận có công dụng hoặc hiệu quả như thuốc cảm hoặc thuốc uống trị viêm mũi thì là 7 ngày dùng).
Theo bảng của Guide, pseudoephedrin (trừ dạng dùng ngoài) là 5 ngày, nhưng đối với chế phẩm được công nhận có công dụng hoặc hiệu quả như thuốc cảm hoặc thuốc uống trị viêm mũi thì là 7 ngày, số lượng là một bao bì và không vượt quá số lượng tương ứng số ngày dùng xét theo cách dùng, liều dùng. Không được bán vượt quá số lượng quy định cho từng thuốc được chỉ định phòng chống lạm dụng, và codein không phải 10 ngày mà là 5 ngày. Ngoài ra, khi không thể cung cấp thông tin hoặc trường hợp khác được công nhận là không thể bảo đảm sử dụng đúng đắn, thì không được bán.
Câu 31 | Trưng bày thuốc chống lạm dụng
Trong số các mô tả về phương pháp mà người mở hiệu thuốc hoặc người kinh doanh cửa hàng bán thuốc trưng bày thuốc được chỉ định phòng chống lạm dụng (giới hạn ở thuốc không kê đơn Nhóm 2 hoặc Nhóm 3), đâu là mô tả đúng?
Phương pháp trưng bày thuốc được chỉ định phòng chống lạm dụng chỉ giới hạn ở việc trưng bày ở kệ trưng bày bên trong khu vực trưng bày thuốc được chỉ định phòng chống lạm dụng, hoặc trưng bày trong phạm vi 1,2 mét kể từ thiết bị cung cấp thông tin và bố trí liên tục dược sĩ hoặc Người bán thuốc đăng ký tham gia nghiệp vụ dược sự tại thiết bị đó.
Thuốc được chỉ định phòng chống lạm dụng, bất kể có ở bên trong khu vực trưng bày thuốc được chỉ định phòng chống lạm dụng hay không, đều bắt buộc phải trưng bày ở kệ trưng bày có khóa.
Nếu trưng bày trong phạm vi 7 mét kể từ thiết bị cung cấp thông tin, thì không cần bố trí liên tục dược sĩ hoặc Người bán thuốc đăng ký tại thiết bị đó.
Phải trưng bày ở kệ trưng bày bên trong khu vực trưng bày thuốc được chỉ định phòng chống lạm dụng, hoặc trưng bày trong phạm vi 7 mét kể từ thiết bị cung cấp thông tin và bố trí liên tục dược sĩ hoặc Người bán thuốc đăng ký tham gia nghiệp vụ dược sự tại thiết bị đó, theo một trong hai phương pháp này.
Đáp ánD. Phải trưng bày ở kệ trưng bày bên trong khu vực trưng bày thuốc được chỉ định phòng chống lạm dụng, hoặc trưng bày trong phạm vi 7 mét kể từ thiết bị cung cấp thông tin và bố trí liên tục dược sĩ hoặc Người bán thuốc đăng ký tham gia nghiệp vụ dược sự tại thiết bị đó, theo một trong hai phương pháp này.
Theo Điều 218-5 của Quy tắc thi hành, thuốc được chỉ định phòng chống lạm dụng (giới hạn ở thuốc không kê đơn Nhóm 2 hoặc Nhóm 3) phải theo một trong hai phương pháp: (1) trưng bày ở kệ trưng bày bên trong khu vực trưng bày thuốc được chỉ định phòng chống lạm dụng (trừ trường hợp trưng bày ở kệ trưng bày có khóa v.v.), hoặc (2) trưng bày trong phạm vi 7 mét kể từ thiết bị cung cấp thông tin và bố trí liên tục dược sĩ hoặc Người bán thuốc đăng ký tại thiết bị đó. Phương pháp trưng bày trong phạm vi 7 mét cần bố trí liên tục chuyên gia, việc trưng bày ở kệ trưng bày có khóa không phải nghĩa vụ, và con số 1,2 mét không có trong quy định này.
Câu 32 | Sổ tay thuốc
Trong số các mô tả về Sổ tay thuốc, đâu là mô tả đúng?
Ngay cả khi người muốn sử dụng thuốc cần hướng dẫn sử dụng không có Sổ tay thuốc, cũng không cần khuyến khích họ sở hữu, hoặc cung cấp thông tin có sử dụng Sổ tay thuốc.
Sổ tay thuốc là sổ tay có thể quản lý một cách thống nhất và theo trình tự thời gian lịch sử dùng thuốc cùng các thông tin khác, và việc ghi chép cả thuốc cần hướng dẫn sử dụng vào đó cũng quan trọng.
Không cần ghi chép về thuốc cần hướng dẫn sử dụng vào Sổ tay thuốc.
Sổ tay thuốc chỉ ghi chép về thuốc được điều chế theo đơn tại cơ sở y tế, không phải để ghi chép việc sử dụng thuốc cần hướng dẫn sử dụng hay thuốc không kê đơn (OTC).
Đáp ánB. Sổ tay thuốc là sổ tay có thể quản lý một cách thống nhất và theo trình tự thời gian lịch sử dùng thuốc cùng các thông tin khác, và việc ghi chép cả thuốc cần hướng dẫn sử dụng vào đó cũng quan trọng.
Theo Guide, Sổ tay thuốc (お薬手帳, Okusuri Techō) là sổ tay có thể quản lý một cách thống nhất và theo trình tự thời gian lịch sử dùng thuốc cùng các thông tin khác; khi bán thuốc cần hướng dẫn sử dụng, nếu người muốn sử dụng không có Sổ tay thuốc thì khuyến khích họ sở hữu, nếu có thì để cung cấp thông tin và hướng dẫn có sử dụng Sổ tay thuốc khi cần thiết. Việc ghi chép cả thuốc cần hướng dẫn sử dụng vào Sổ tay thuốc là quan trọng, và tương tự, việc ghi chép cả thuốc không kê đơn (OTC) cũng quan trọng đối với thuốc không kê đơn Nhóm 1, nên các phương án khác đều sai.
Câu 33 | Cấm quảng cáo phóng đại
Trong số các mô tả về quy định tại Điều 66 của Luật liên quan đến quảng cáo thuốc, đâu là mô tả đúng?
Bất kỳ ai cũng không được quảng cáo, ghi chép hoặc lan truyền nội dung sai sự thật hoặc phóng đại liên quan đến tên gọi, phương pháp sản xuất, công dụng, hiệu quả hoặc tính năng của thuốc, bất kể là rõ ràng hay ngụ ý.
Việc quảng cáo, ghi chép hoặc lan truyền nội dung có thể gây hiểu lầm rằng bác sĩ hoặc người khác đã bảo đảm cho thuốc đó, được quy định là không thuộc nội dung sai sự thật hoặc phóng đại nếu nội dung đó là sự thật.
Việc quảng cáo nội dung sai sự thật một cách rõ ràng bị cấm, nhưng việc ngụ ý thì không bị cấm.
Đối tượng bị cấm quảng cáo phóng đại v.v. chỉ là doanh nghiệp dược phẩm - bên đặt hàng quảng cáo.
Đáp ánA. Bất kỳ ai cũng không được quảng cáo, ghi chép hoặc lan truyền nội dung sai sự thật hoặc phóng đại liên quan đến tên gọi, phương pháp sản xuất, công dụng, hiệu quả hoặc tính năng của thuốc, bất kể là rõ ràng hay ngụ ý.
Điều 66 khoản 1 của Luật quy định rằng bất kỳ ai cũng không được quảng cáo, ghi chép hoặc lan truyền nội dung sai sự thật hoặc phóng đại liên quan đến tên gọi, phương pháp sản xuất, công dụng, hiệu quả hoặc tính năng của thuốc v.v., bất kể là rõ ràng hay ngụ ý. Điều 66 và Điều 68 của Luật áp dụng không chỉ cho bên đặt hàng quảng cáo mà cho tất cả những người liên quan đến quảng cáo đó. Ngoài ra, việc quảng cáo, ghi chép hoặc lan truyền nội dung có thể gây hiểu lầm rằng bác sĩ hoặc người khác đã bảo đảm cho thuốc đó được xem là thuộc diện này (khoản 2 cùng điều).
Câu 34 | Quảng cáo trước khi phê duyệt
Trong số các mô tả về quảng cáo thuốc chưa được phê duyệt, đâu là mô tả đúng?
Quảng cáo bán thuốc không kê đơn (OTC) không bao gồm tờ rơi hoặc quảng cáo POP được dùng để xúc tiến bán hàng tại hiệu thuốc, cơ sở kinh doanh cửa hàng bán thuốc hoặc kinh doanh bán thuốc đặt tại nhà.
Không có quy định hình phạt đối với người quảng cáo vi phạm Điều 66 hoặc Điều 68 của Luật.
Bất kỳ ai cũng không được quảng cáo tên gọi, phương pháp sản xuất, công dụng, hiệu quả hoặc tính năng của thuốc chưa được phê duyệt.
Đối với thuốc chưa được phê duyệt, chỉ cần quảng cáo mỗi tên gọi thôi thì được phép.
Đáp ánC. Bất kỳ ai cũng không được quảng cáo tên gọi, phương pháp sản xuất, công dụng, hiệu quả hoặc tính năng của thuốc chưa được phê duyệt.
Theo Điều 68 của Luật, cấm quảng cáo tên gọi, phương pháp sản xuất, công dụng, hiệu quả hoặc tính năng của thuốc chưa được phê duyệt, kể cả chỉ quảng cáo tên gọi cũng không được phép. Người vi phạm các quy định này khi quảng cáo sẽ bị phạt tù có lao động dịch dưới 2 năm hoặc phạt tiền dưới 2 triệu yên, hoặc bị áp dụng cả hai (Điều 85 mục 4 hoặc mục 5 của Luật). Ngoài ra, quảng cáo bán thuốc không kê đơn (OTC) bao gồm cả những gì thực hiện qua phương tiện truyền thông đại chúng lẫn tờ rơi, thư trực tiếp (kể cả email), quảng cáo POP v.v.
Câu 35 | Ba yêu cầu của quảng cáo
Trong số các mô tả về phán đoán xem có thuộc diện quảng cáo thuốc hay không, đâu là mô tả đúng?
Chỉ cần ý định thu hút khách hàng (thúc đẩy ý muốn mua hàng của khách hàng) rõ ràng, thì dù không đáp ứng các yêu cầu khác vẫn được phán đoán là thuộc diện quảng cáo.
Việc tên sản phẩm (tên bán hàng) của thuốc cụ thể được làm rõ, khác với việc người dân bình thường có thể nhận biết được, không thuộc yêu cầu của tính chất quảng cáo.
Trong 3 yêu cầu (1) ý định thu hút khách hàng (thúc đẩy ý muốn mua hàng của khách hàng) rõ ràng, (2) tên sản phẩm (tên bán hàng) của thuốc cụ thể được làm rõ, (3) người dân bình thường có thể nhận biết được, chỉ cần đáp ứng bất kỳ 1 yêu cầu nào thì được phán đoán là thuộc diện quảng cáo.
Được phán đoán là thuộc diện quảng cáo khi đáp ứng đủ cả 3 yêu cầu: (1) ý định thu hút khách hàng (thúc đẩy ý muốn mua hàng của khách hàng) rõ ràng, (2) tên sản phẩm (tên bán hàng) của thuốc cụ thể được làm rõ, (3) người dân bình thường có thể nhận biết được.
Đáp ánD. Được phán đoán là thuộc diện quảng cáo khi đáp ứng đủ cả 3 yêu cầu: (1) ý định thu hút khách hàng (thúc đẩy ý muốn mua hàng của khách hàng) rõ ràng, (2) tên sản phẩm (tên bán hàng) của thuốc cụ thể được làm rõ, (3) người dân bình thường có thể nhận biết được.
Theo Guide, việc có thuộc diện quảng cáo thuốc hay không được phán đoán là thuộc diện quảng cáo khi đáp ứng đủ cả 3 yêu cầu: (1) ý định thu hút khách hàng rõ ràng, (2) tên sản phẩm cụ thể được làm rõ, (3) người dân bình thường có thể nhận biết được. Vì cần đáp ứng đủ cả 3 yêu cầu, nên mô tả cho rằng chỉ cần 1 yêu cầu là đủ là sai, và việc tên sản phẩm được làm rõ cũng là một trong các yêu cầu.
Câu 36 | Chế độ tiền phạt hành chính
Trong số các mô tả về chế độ tiền phạt hành chính liên quan đến quảng cáo thuốc, đâu là mô tả đúng?
Có chế độ tiền phạt hành chính, theo đó Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi ra lệnh cho người quảng cáo sai sự thật hoặc phóng đại liên quan đến tên gọi, phương pháp sản xuất, công dụng, hiệu quả hoặc tính năng của thuốc, thiết bị y tế v.v. phải nộp tiền phạt hành chính bằng 4,5% doanh thu sản phẩm đối tượng trong thời gian vi phạm.
Có chế độ tiền phạt hành chính, theo đó Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi ra lệnh cho người quảng cáo sai sự thật hoặc phóng đại liên quan đến tên gọi, phương pháp sản xuất, công dụng, hiệu quả hoặc tính năng của thuốc, thiết bị y tế v.v. phải nộp tiền phạt hành chính bằng 10% doanh thu sản phẩm đối tượng trong thời gian vi phạm.
Lệnh nộp tiền phạt hành chính do Thống đốc tỉnh, thành phố ra tùy theo doanh thu sản phẩm đối tượng.
Chế độ tiền phạt hành chính chỉ áp dụng cho quảng cáo thuốc trước khi được phê duyệt.
Đáp ánA. Có chế độ tiền phạt hành chính, theo đó Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi ra lệnh cho người quảng cáo sai sự thật hoặc phóng đại liên quan đến tên gọi, phương pháp sản xuất, công dụng, hiệu quả hoặc tính năng của thuốc, thiết bị y tế v.v. phải nộp tiền phạt hành chính bằng 4,5% doanh thu sản phẩm đối tượng trong thời gian vi phạm.
Theo Điều 75-5-2 của Luật, có chế độ tiền phạt hành chính, theo đó Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi ra lệnh cho người quảng cáo sai sự thật hoặc phóng đại liên quan đến tên gọi, phương pháp sản xuất, công dụng, hiệu quả hoặc tính năng của thuốc, thiết bị y tế v.v. phải nộp tiền phạt hành chính bằng 4,5% doanh thu sản phẩm đối tượng trong thời gian vi phạm. Tỷ lệ không phải 10% mà là 4,5%, người ra lệnh không phải Thống đốc tỉnh, thành phố mà là Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi, và đối tượng là quảng cáo sai sự thật - phóng đại, không giới hạn ở quảng cáo thuốc trước khi phê duyệt.
Câu 37 | Tiêu chuẩn quảng cáo phù hợp
Trong số các mô tả về tính phù hợp của quảng cáo dựa trên Tiêu chuẩn quảng cáo phù hợp của thuốc v.v., đâu là mô tả đúng?
Quảng cáo về việc người có chuyên môn về y dược, cơ sở y tế, cơ quan công cộng, đoàn thể v.v. công nhận, giới thiệu, lựa chọn sử dụng v.v. thì được công nhận nếu đó là sự thật.
Cách diễn đạt quảng cáo như "uống bao nhiêu cũng không có tác dụng phụ" tuy có nguy cơ thúc đẩy việc sử dụng quá mức hoặc lạm dụng, nhưng không thuộc quảng cáo sai sự thật hoặc phóng đại.
Việc quảng cáo mà lược bỏ cách diễn đạt "giới hạn" giới hạn thể trạng của người sử dụng v.v. vốn được đính kèm trong công dụng, hiệu quả của phương thuốc Đông y không kê đơn, về nguyên tắc không được công nhận.
Cách diễn đạt bảo đảm rằng hiệu quả hoặc tính an toàn của thuốc là chắc chắn, chỉ khi rõ ràng mới bị xem là quảng cáo sai sự thật hoặc phóng đại.
Đáp ánC. Việc quảng cáo mà lược bỏ cách diễn đạt "giới hạn" giới hạn thể trạng của người sử dụng v.v. vốn được đính kèm trong công dụng, hiệu quả của phương thuốc Đông y không kê đơn, về nguyên tắc không được công nhận.
Theo Guide, việc quảng cáo mà lược bỏ điều kiện tiền đề nhất định (gọi là cách diễn đạt "giới hạn") đính kèm trong công dụng, hiệu quả của phương thuốc Đông y v.v., về nguyên tắc không được công nhận. Quảng cáo về việc người có chuyên môn về y dược hay cơ quan công cộng v.v. công nhận, giới thiệu v.v., dù đó có là sự thật đi nữa, về nguyên tắc vẫn bị xem là không phù hợp. Cách diễn đạt trái với sự thật như "uống bao nhiêu cũng không có tác dụng phụ" cũng thuộc quảng cáo sai sự thật hoặc phóng đại. Cách diễn đạt bảo đảm hiệu quả hoặc tính an toàn, bất kể rõ ràng hay ngụ ý, đều bị xem là quảng cáo sai sự thật hoặc phóng đại.
Câu 38 | Cách bán không phù hợp
Trong số các mô tả về phương pháp bán thuốc, đâu là mô tả đúng?
Việc bán kết hợp các thuốc có công dụng, hiệu quả trùng lặp với nhau được xem là phù hợp trên góc độ tiện lợi cho người mua.
Trong bán hàng kết hợp, nội dung ghi chép dựa trên pháp luật được ghi trên vỏ hộp bên ngoài v.v. của từng thuốc riêng lẻ, có thể không nhìn thấy được từ bên ngoài vật chứa dùng để bán hàng kết hợp.
Việc cung cấp quà tặng như đồ lưu niệm nhân vật hoạt hình để bán thuốc được công nhận trong giới hạn của Luật Cấm quà tặng và biểu thị không chính đáng.
Việc tặng thuốc làm giải thưởng hoặc quà tặng được công nhận trong giới hạn của Luật Cấm quà tặng và biểu thị không chính đáng.
Đáp ánC. Việc cung cấp quà tặng như đồ lưu niệm nhân vật hoạt hình để bán thuốc được công nhận trong giới hạn của Luật Cấm quà tặng và biểu thị không chính đáng.
Theo Guide, việc cung cấp quà tặng như đồ lưu niệm nhân vật hoạt hình để bán được công nhận trong giới hạn của Luật Cấm quà tặng và biểu thị không chính đáng, nhưng việc tặng thuốc làm giải thưởng hoặc quà tặng, về nguyên tắc không được công nhận. Trong bán hàng kết hợp, sự kết hợp có công dụng, hiệu quả trùng lặp hoặc có nguy cơ gây nguy hại về vệ sinh sức khỏe do tương tác v.v. là không phù hợp, và nội dung ghi chép dựa trên pháp luật được ghi trên vỏ hộp bên ngoài v.v. của từng thuốc riêng lẻ cần phải nhìn thấy rõ ràng từ bên ngoài vật chứa dùng để bán hàng kết hợp (Điều 51 của Luật).
Câu 39 | Thanh tra viên dược sự
Trong số các mô tả về giám sát, hướng dẫn của cơ quan hành chính, đâu là mô tả đúng?
Hình phạt đối với người từ chối, cản trở hoặc né tránh việc kiểm tra tại chỗ hoặc thu giữ của thanh tra viên dược sự là phạt tù có lao động dịch dưới 3 năm.
Thống đốc tỉnh, thành phố v.v. có thể để nhân viên phụ trách (thanh tra viên dược sự) vào nơi người mở hiệu thuốc hoặc người kinh doanh bán thuốc xử lý thuốc trong công việc, thu giữ với số lượng tối thiểu cần thiết cho việc thử nghiệm, đối với vật bị nghi ngờ là thuốc chưa được phê duyệt, chưa được cấp phép, thuốc kém chất lượng hoặc thuốc ghi nhãn sai v.v.
Ngay cả khi nhân viên bao gồm dược sĩ hay Người bán thuốc đăng ký không trả lời câu hỏi của thanh tra viên dược sự mà không có lý do chính đáng, cũng không bị áp dụng hình phạt.
Thanh tra viên dược sự không phải do Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi, Thống đốc tỉnh, thành phố, thị trưởng thành phố có trạm y tế hay trưởng khu đặc biệt bổ nhiệm, mà do hội dược sĩ bổ nhiệm trong số hội viên của mình, và có quyền vào nơi người mở hiệu thuốc hoặc người kinh doanh bán thuốc xử lý thuốc trong công việc để kiểm tra.
Đáp ánB. Thống đốc tỉnh, thành phố v.v. có thể để nhân viên phụ trách (thanh tra viên dược sự) vào nơi người mở hiệu thuốc hoặc người kinh doanh bán thuốc xử lý thuốc trong công việc, thu giữ với số lượng tối thiểu cần thiết cho việc thử nghiệm, đối với vật bị nghi ngờ là thuốc chưa được phê duyệt, chưa được cấp phép, thuốc kém chất lượng hoặc thuốc ghi nhãn sai v.v.
Theo Guide, Thống đốc tỉnh, thành phố v.v. có thể để thanh tra viên dược sự vào nơi xử lý thuốc trong công việc, kiểm tra cấu trúc thiết bị hoặc sổ sách chứng từ v.v., đặt câu hỏi cho người liên quan, thu giữ vật bị nghi ngờ với số lượng tối thiểu cần thiết cho việc thử nghiệm. Thanh tra viên dược sự do Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi, Thống đốc tỉnh, thành phố, thị trưởng thành phố có trạm y tế hay trưởng khu đặc biệt bổ nhiệm trong số nhân viên của mình. Nếu nhân viên không trả lời câu hỏi mà không có lý do chính đáng, hoặc từ chối, cản trở, né tránh việc kiểm tra tại chỗ - thu giữ, thì bị phạt tiền dưới 500 nghìn yên (Điều 87 mục 13 của Luật).
Câu 40 | Xử phạt và cửa sổ khiếu nại
Trong số các mô tả về xử phạt của cơ quan hành chính và cửa sổ tư vấn khiếu nại, đâu là mô tả SAI?
Doanh nghiệp sản xuất, bán thuốc v.v., ngay cả khi biết được rằng có khả năng xảy ra hoặc mở rộng nguy hại về vệ sinh sức khỏe do việc sử dụng thuốc đó, nếu không có lệnh của cơ quan hành chính thì không thể áp dụng các biện pháp như tiêu hủy, thu hồi, dừng bán v.v.
Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi, khi công nhận là cần thiết để phòng ngừa phát sinh hoặc mở rộng nguy hại về vệ sinh sức khỏe do thuốc, có thể ra lệnh cho người mở hiệu thuốc hoặc người kinh doanh bán thuốc phải áp dụng biện pháp khẩn cấp như tạm dừng bán hoặc chuyển giao thuốc.
Khiếu nại v.v. từ người dân liên quan đến quảng cáo bán hàng, phương pháp bán hàng v.v. của hiệu thuốc hoặc cơ sở kinh doanh bán thuốc, được gửi đến không chỉ phòng chủ quản dược sự của cơ quan hành chính, trạm y tế, văn phòng giám sát dược sự, mà cả Trung tâm Đời sống Quốc dân (tổ chức hành chính độc lập) hay Trung tâm Đời sống Tiêu dùng từng khu vực, các đoàn thể người tiêu dùng v.v.
Thống đốc tỉnh, thành phố v.v., trong trường hợp người mở hiệu thuốc hoặc người kinh doanh bán thuốc có hành vi vi phạm pháp luật, quy định về dược sự, khi công nhận là cần thiết để phòng ngừa phát sinh hoặc mở rộng nguy hại về vệ sinh sức khỏe, có thể ra lệnh phải áp dụng biện pháp cần thiết để cải thiện việc vận hành nghiệp vụ.
Đáp ánA. Doanh nghiệp sản xuất, bán thuốc v.v., ngay cả khi biết được rằng có khả năng xảy ra hoặc mở rộng nguy hại về vệ sinh sức khỏe do việc sử dụng thuốc đó, nếu không có lệnh của cơ quan hành chính thì không thể áp dụng các biện pháp như tiêu hủy, thu hồi, dừng bán v.v.
Theo Guide, ngay cả khi không có lệnh của cơ quan hành chính, nếu doanh nghiệp sản xuất, bán thuốc v.v. biết được rằng có khả năng xảy ra hoặc mở rộng nguy hại về vệ sinh sức khỏe do việc sử dụng thuốc đó, thì phải áp dụng các biện pháp cần thiết như tiêu hủy, thu hồi, dừng bán, cung cấp thông tin v.v. để phòng ngừa điều đó (Điều 68-9 khoản 1 của Luật), nên đây là phương án sai. Lệnh cải thiện vận hành nghiệp vụ (Điều 72-4 khoản 1 của Luật), lệnh khẩn cấp của Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi (Điều 69-3 của Luật), khiếu nại gửi đến Trung tâm Đời sống Quốc dân hay Trung tâm Đời sống Tiêu dùng v.v., đều đúng theo Guide.
Luyện tập: giải các câu hỏi trên trang này
Đây là công cụ luyện tập với câu hỏi ngẫu nhiên (hoạt động khi JavaScript được bật). Bạn vẫn có thể đọc toàn bộ câu hỏi và phần giải thích ở trên.
* Lời giải là thông tin phục vụ việc học. Phạm vi ra đề và chế độ thi có thể thay đổi theo từng năm, vì vậy hãy luôn kiểm tra thông báo chính thức của đơn vị tổ chức thi.
Trang này là bản dịch từ nguyên bản tiếng Nhật. Nếu nội dung bản dịch và nguyên bản khác nhau, bản tiếng Nhật sẽ được ưu tiên. Xem nguyên bản tiếng Nhật